PDA

View Full Version : Liên Xô - Việt Nam



noitiengtunho
04-02-06, 02:31 PM
Có một ngày, khán giả của kênh Một đài truyền hình Nga đã được xem một chương trình có tựa đề “Những bí mật Nga trong chiến tranh Việt nam”. Chương trình truyền hình này nói về một cuộc chiến tranh, mà như lời của người dẫn chương trình, do một siêu cường quốc tiến hành, đánh vào một đất nước nghèo nàn. Cuộc chiến tranh, mà trong đó, người Mỹ đã trút 7 triệu tấn bom, đã rải 80 triệu lít chất độc hoá học xuống đất Việt nam. Cuộc chiến tranh, đã cướp đi sinh mạng của hai triệu người Việt Namvà 60 nghìn lính viễn chinh Mỹ.

Khán giả truyền hình Nga lớn tuổi còn nhớ rõ những thông tin về cuộc chiến tranh này. Nhưng nhiều thanh thiếu niên Nga chỉ bây giờ mới lần đầu tiên được xem những thước phim tài liệu về những trận ném bom của máy bay Mỹ, lần đầu thấy cảnh hàng dãy phố của các đô thị Việt Namđổ nát dưới mưa bom Mỹ, thấy những trái bom napal rơi xuống thiêu hủy những cánh đồng lúa Việt Namhiền hòa...

Đất nước Việt Namđã có thể còn bị chia cắt dài lâu, nếu như không có sự giúp đỡ đầy tình anh em từ Liên bang Xô-viết - người dẫn chương trình truyền hình đã nhận xét như vậy. Gần 6 nghìn rưởi chuyên gia và cố vấn quân sự Xô-viết đã giúp nhân dân Việt Namyêu nước giành lại tự do và độc lập cho đất nước thân yêu của mình.

Ngay từ năm 1964, ở Liên Xô đã bắt đầu thành lập các đơn vị, mà trước hết là từ binh chủng tên lửa, giành cho “công tác miền Nam”, như cách gọi hồi đó. Theo qui tắc bảo mật, từ “Việt nam” không hề được nhắc đến, nhưng tất cả đều hiểu rằng, những người được chọn vào các đơn vị này sẽ đi Việt Namtham gia chiến đấu.

Vào mùa xuân năm 1965, các chuyên gia quân sự Xô-viết đã đặt chân đến các vùng rừng rậm Việt Namđể lắp ráp các bệ đặt tên lửa đất đối không và tiến hành huấn luyện kỹ thuật cho các chiến sĩ Việt nam. Người Mỹ đã dự đoán rằng, làm được công việc này phải mất ít nhất là một năm. Trên thực tế, ta chỉ cần có 2 tháng. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, trận đánh bằng tên lửa phòng không đầu tiên đã diễn ra trên bầu trời Việt nam. Ba máy bay phản lực Mỹ đã bị hạ bởi 3 tên lửa của ta. 27 tháng 7, trận thứ hai, 3 phát tên lửa Xô-viết đã quật ngã 4 máy bay ném bom Mỹ.

Trong một năm rưỡi đầu tiên, việc điều khiển tên lửa do các chuyên gia xôviết, mà chủ yếu là người Nga, tiến hành. Tham gia vào chương trình truyền hình kể trên, đại tá Ivanov, phục vụ ở Việt Namnhững năm 1965-1966, đã nhớ lại và nói rằng “ Chúng tôi canh giữ bảo vệ bầu trời Việt Namđể các đồng chí Việt Namcó thể vươn tới chiến thắng trên mặt đất”. Đơn vị tên lửa nơi ông Ivanov làm chuyên gia đã bắn tan xác 24 máy bay Mỹ.

Cũng chính ở Việt nam, lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới, một chiến thuật cơ động độc đáo đã được áp dụng: phóng tên lửa từ các trận địa được ngụy trang kín đáo, sau đó cả đơn vị lập tức chuyển sang vị trí khác. Bằng cách như vậy, chỉ với 40 quả tên lửa, đơn vị của đại tá Mozhaev đã tiêu diệt được 23 phản lực Mỹ.

Ngoài bom đạn quân thù, trong số những hiểm nguy rình rập các chiến sĩ tên lửa Nga hồi ấy, theo như các cựu chiến binh hồi tưởng lại hôm nay, còn có mối nguy số 1 là bệnh viêm phổi. Ban ngày, nhiệt độ trong buồng điều khiển tên lửa lên tới 65 độ C. Sau mấy tiếng đồng hồ trực chiến trong buồng này, bước ra ngoài trời có nhiệt độ 25-30 độ C, những người con của xứ Nga hàn đới rất dễ bị ốm ngay tức khắc.

Đến cuối năm 1966, các sĩ quan Việt Namđược đào tạo ở Nga về đã tự đảm nhiệm việc phóng tên lửa hạ máy bay thù. Cùng tham gia bảo vệ bầu trời quê hương, còn có các phi công Việt Namlái những chiếc máy bay phản lực xôviết “Mig”. Người dẫn chương trình truyền hình nhận xét, tiến hành 500 cuộc không chiến, bị mất 131 chiếc Mig, các phi công Việt Namđã hạ được 300 máy bay địch.

Trong đọan phim truyền hình “Những bí mật Nga trong chiến tranh Việt nam”, sự đóng góp của các chiến sĩ tình báo Nga cũng đã được nhắc tới. Nhờ có công tác của họ, chỉ vài phút sau khi phi đội pháo đài bay B-52, mỗi chiếc mang theo 30 tấn bom, cất cánh từ căn cứ Gu-am, ở Liên xô đã nhận được thông tin, và ngay lập tức, tin những tên cướp trời xuất phát cũng như dự đoán đường bay và hướng gây tội ác của chúng, được chuyển cho Bộ Tổng Tham mưu quân đội nhân dân Việt nam, để bố trí lưới lửa giăng bắt những tên kẻ cướp này.

Ở Việt nam, tính chung đã tiêu diệt được 4 nghìn rưởi máy bay phản lực tiêm kích và ném bom – tức là một nửa cơ số của không lực Hoa kỳ. Những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt nam, các chiến sĩ dân quân tự vệ Việt nam, những người đã góp phần to lớn vào chiến công chung, cũng đã được người dẫn chương trình truyền hình Nga nhắc đến bằng những lời trìu mến và trân trọng.

Đã từ lâu, việc có các chuyên gia và cố vấn quân sự Xô-viết góp phần giúp Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, chẳng còn là điều bí mật nữa. Mà thật ra, thì điều này chưa bao giờ được xem là bí mật – đơn giản là, trước đây không được phép nói và viết ra mà thôi. Hiện nay ở Nga có Hội các cựu chiến binh Nga tham gia chiến tranh Việt nam, thành viên của Hội thường đi Việt Nam, thăm lại những địa điểm chiến đấu năm xưa. Họ cũng thường xuyên hội ngộ ở Mátxcơva và phát biểu trên truyền hình. Các cựu chiến binh kể cho lớp trẻ nghe về niềm vinh quang của vũ khí Nga, về những trang rực rỡ trong lịch sử đất nước, những trang sử đẹp đẽ của sự hợp tác hữu nghị Nga-Việt.

Các bạn thân mến, trên đây là mấy ghi chép về đọan phim tài liệu có nhan đề “ Những bí mật Nga của chiến tranh Việt nam”, được phát hình cách đây chưa lâu trên kênh Một truyền hình Liên bang Nga.


Tác giả: Alecsay Lensov.

Người dịch : Đan Thi, Moscow.

Radio “The Voice of Russia”

noitiengtunho
04-02-06, 02:41 PM
Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam

…Mặc dù trong suốt cuộc chiến tranh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hai đồng minh hùng mạnh Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, nhưng các nước này lại không được các nhà sử học nghiên cứu về cuộc chiến Đông Dương để ý tới. Hiện còn một khối lượng lớn tài liệu viết về chính sách của Mỹ, vô số tài liệu phân tích chính sách của Bắc Việt Nam và còn nhiều bài báo về chính sách của Trung Quốc. Nhưng người ta có thể uổng công vô ích cũng không tìm ra một tài liệu phân tích toàn diện về các hoạt động của Liên Xô trong cuộc chiến tranh này cùng các chính sách của Matxcơva.
Rút cuộc thì Liên Xô không phải là người trực tiếp tham chiến. Matxcơva đã cung cấp cho Bắc Việt Nam những khoản viện trợ quân sự và kinh tế then chốt cần thiết cho Hà Nối đối phó lại cả Mỹ lẫn chế độ Ngụy Sài Gòn. Matxcơva còn hỗ trợ tuyên truyền xuất bản và phát thanh lên án tội ác của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nhưng nhìn chung Liên Xô luôn cố duy trì một vị thế thấp đối với cuộc chiến, thường đứng sau hậu trường và có nhiều hoạt động gián tiếp, tránh công khai lộ mặt trong các hoạt động ngoại giao.
Không những vậy mà hầu hết các tài liệu trong hồ sơ của người Nga có thể cho thấy vai trò của Matxcơva trong cuộc xung đột này vẫn không hề tìm kiếm được Việc đưa ra công khai các tài liệu mật tương tự như vậy trong kho tài liệu mật của Mỹ chỉ mới được tiến hành gần đây. Việc xuất bản các tuyển tập đàm phán về các tài liệu của Quốc hội Mỹ năm 1983 là khởi điểm của quá trình này, nhưng phải đến sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 các quan chức Mỹ mới sẵn sàng đưa ra các tài liệu đủ để phác họa bức tranh ít nhiều có tính toàn diện về quan hệ Xô-Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Và không thể chỉ xuất phát từ các tài liệu này để tìm ra lời giải đáp cho nhiều vấn đề liên quan đến việc Liên Xô dính líu vào cuộc xung đột này như các vấn đề bản chất quan hệ giữa Matxcơva-Hà Nội, đánh giá của các quan chức Liên Xô về cuộc chiến cùng ảnh hưởng của nó đối với quan hệ quốc tế, và vị trí của Việt Nam, Đông Dương trong việc hoạch đinh chính sách đối ngoại của Liên Xô.
Những phân tích đánh giá có tinh lịch sử của Liên Xô và Nga chỉ gây thêm khó khăn cho những người quan tâm đến chính sách của Liên Xô. Các tài liệu viết về Việt Nam ở Liên Xô thường không khách quan. Hầu hết các sách này xuất hiện trong hoặc ngay sau khi xảy ra xung đột ở Đông Dương do các nhà báo viết ra miêu tả sự việc theo quan điểm tư tưởng chính thức. Họ đều không có ý đánh giá toàn diện về cuộc chiến tranh này, bỏ qua đánh giá về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh. Nhiều cuốn sách khác của các quan chức Đảng và Chính phủ biện minh cho sự dính líu của Liên Xô trong cuộc chiến Việt Nam, và đang được nhắc lại trong các bài xã luận đăng trên báo sự thật cũ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng hơn là nhiều việc đã bị bỏ qua. Các nhà học giả Liên Xô cũng đã có đóng góp vào việc nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, nhưng họa hoằn lắm mới buộc phải sử dụng đến các nguồn thông tin hỗ trợ khác, và các tài liệu nghiên cứu của họ chỉ hạn chế trong khuôn khổ quy định của hệ tư tưởng chính thống và quyền lợi quốc gia. Hơn nữa, ngay sau thắng lợi của những người cộng sản ở Nam Việt Nam và sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn cũ, sự chú ý của các nhà học giả Liên Xô đối với chiến tranh này ngày càng suy giảm và không bao giờ trở lại như xưa nữa. Việc thiếu hiếm tài liệu và ít quan tâm đến cuộc chiến tranh Việt Nam đã tạo ra tình trạng thiếu hiểu biết nghiêm trọng về cuộc xung đột ở Đông Nam Á và vai trò của Liên Xô trong cuộc xung đột đó.
Cuộc đảo chính không thành hồi tháng 8-1991 và sự tan rã của Liên Xô đã đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Nga. Để chuẩn bị xét xử Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU) các nhà lãnh đạo mới của Nga đã mở lại hồ sờ của Đảng tìm kiếm bằng chứng chống lại chế độ cộng sản cùng các đại diện chế độ đó. Kể từ khi Đảng cộng sản kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực chính sách và đời sống ở Liên Xô, đây là lần đầu tiên các tài liệu quan trọng về chính sách đối ngoại của Liên Xô lưu trữ trong hồ sơ đã được đưa ra công khai cho các quan chức của chế độ mới cùng các nhà học giả nghiên cứu. Do đó một số thỏa thuận giữa cơ quan lưu trữ hồ sơ của Liên Xô và các tổ chức khoa học Nga và quốc tế, các nhà nghiên cứu được tạo điều kiện thuận lợi tiếp xúc các tài liệu lưu trữ.
Một thỏa thuận như vậy được ký kết giữa Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (tên đặt sau đảo chính của cơ quan lưu trữ hồ sơ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô), Viện lịch sử thế giới của Viện hàn lâm khoa học Nga, và Dự án lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh thuộc Trung tâm các nhà học giả quốc tế Woodrow Wilson ở Washington. Thỏa thuận này quy định rằng các học giả Nga và phương Tây tham gia dự án này được tiếp cận với các tài liệu “đã hết bí mật” trong hồ sơ lưu trữ của Đảng cộng sản Liên Xô, và cuối cùng các tài liệu này sẽ có thể công khai cho mọi người có nguyện vọng nghiên cứu lịch sử chế độ cộng sản Liên Xô (Tôi là một trong những người tham gia vào dự án trên).
Đây là cơ hội duy nhất đối với các nhà sử học đọc các tài liệu được tiết lộ từ hồ sơ của Đảng cộng sản về chính sách trong Chiến tranh Lạnh của Liên Xô. Như mọi người đã biết, quá trình phân loại các tài liệu hết tính bí mật diễn ra chậm chạp so với đòi hỏi cần nhiều tài liệu mới của các nhà sử học, Ban lãnh đạo Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (TKHSD) đã đồng ý tiến hành biện pháp (chưa có từ trước tới nay) mở các tài liệu còn độ mật với ý định sau này sẽ đưa công khai ra trước công luận. Vì tôi là một trong số ít các nhà học giả tập trung nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam (là người Nga duy nhất có mối quan tâm như vậy) đã nhận được rất nhiều tài liệu mật và tối mật về quan hệ Liên Xô và Bắc Việt Nam, các hoạt động của Liên Xô trong quá trình chiến tranh Việt Nam, những đánh giá của Matxcơva về cuộc chiến và ảnh hưởng của nó đối với vị trí của Liên Xô ở Đông Nam Á trên chính trường quốc tế.
Những tài liệu này gồm các báo cáo hàng quý, hàng năm của Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội: báo cáo về các cuộc trao đổi của các quan chức Liên Xô và ngoại quốc; các báo cáo tin tình báo của KGB và GRU (tình báo quân đội), được chuẩn bị tại hai vụ quốc tế của Ban chấp hành Trung ương (Vụ quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, Vụ quan hệ với các đảng cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa) thực sự đã làm đảo lộn cách nhìn cũ của tôi về chính sách của Liên Xô đối với cuộc chiến Việt Nam cùng quan hệ của Matxcơva với đồng minh Bắc Việt Nam. Chính sách của lịch sử hóa ra không phải là trung thực và nhất quán như hoạt động tuyên truyền của những người cộng sản cố tạo dựng lên. Thay vào đó là một chính sách phức tạp và đầy tranh cãi, mâu thuẫn.

noitiengtunho
04-02-06, 02:44 PM
Ý tưởng viết một cuốn sách về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh Việt Nam thoạt đầu do các đồng nghiệp của tôi nêu ra. Sau khi đọc báo cáo của tôi chuẩn bị cho một hội nghị về bằng chứng mới trong lịch sử Chiến tranh Lạnh được tổ chức ở Matxcơva hồi tháng 1 năm 1993, họ đã động viên tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và vì mục đích đó tôi sẽ sử dụng sáu tháng sang Mỹ để tìm tài liệu trong hồ sơ của Mỹ. Trên thực tế sự tổng hợp các tài liệu của Liên Xô và của Mỹ như vậy đã làm bức tranh toàn cảnh về chính sách của Liên Xô ở Đông Nam Á trong những năm chiến tranh đó ngày càng hoàn chỉnh và rõ ràng hơn.
Tuy nhiên, mùa gặt hái của các học giả tìm tài liệu trong hồ sơ lưu trữ của Nga đã nhanh chóng đi đến màn kết thúc ở Matxcơva. Một bằng cớ cho việc các quan chức Nga thay đổi hẳn chính sách đã được tìm thấy trong mớ tài liệu về Việt Nam, và việc tờ Thời báo New York đăng tải một báo cáo của Bắc Việt Nam về số lượng các tù binh chiến tranh người Mỹ. Điều này đã gây tranh cãi ngoại giao và hàng loạt lời buộc tội lẫn phản bác trong giới quan chức ở Nga, Mỹ và ở Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Quan trọng hơn là các nhà lãnh đạo Nga thừa nhận một cách muộn màng rằng các tài liệu để trong kho hồ sơ lưu trữ của Đảng có thể được dùng để phục vụ cho các mục đích chính trị của riêng họ và chỉ được đưa ra vào những thời điểm thích hợp, nhưng khôgn đưa ra công khai toàn bộ các tài liệu đó. Kết quả là các quan chức đã quyết định chấm dứt toàn bộ việc thu thập tài liệu ở Trung tâm lưu trữ nói trên, bao gồm cả các tài liệu về Cuộc chiến tranh Việt Nam. Lại một lần nữa các nhà sử học quan tâm đến Cuộc chiến Việt Nam phải đào bới tìm kiếm từng mẩu thông tin trong các ấn phẩm chính thức của Liên Xô, sách vở, các báo cáo của các giới chức thẩm quyền về hồ sơ lưu trữ của Nga trong nhiều hội nghị ở nước ngoài, và một số tài liệu được dành riêng cho các khách du lịch trong Trung tâm lưu trữ trên.
Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu viết một cuốn sách dựa trên cơ sở chủ yếu là các tài liệu mật của Liên Xô cũng như các tài liệu được đưa ra công khai mới đây của hồ sơ lưu trữ Mỹ ngày càng trở nên cấp bách hơn. Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, và chúng ta cần phải có sự đánh giá, phân tích khách quan và toàn diện về kết quả, cùng hậu quả của cuộc xung đột này đã ảnh hưởng khủng khiếp đến như thế đối với sinh mệnh của hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam, cũng như đối với các quan hệ quốc tế trong Chiến tranh Lạnh.
Cuốn sách này không phải là sự liệt kê toàn diện các sự kiện xảy ra trong suốt những năm tháng của Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai. Nó càng không phải là sự khái quát chung về chính sách của Liên Xô trong giai đoạn đó. Thay vào đó, để phân tích được chính sách ngoại giao của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Nam Á. Tôi xin tập trung phân tích các nhân tố, xu hướng và động cơ hành động đã ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định chính của Liên Xô trong những năm đó. Một sự phân tích như vậy bao trùm tổng thể quan hệ Liên Xô với một số nước. Hiển nhiên là các mối quan hệ với Bắc Việt Nam và với Mỹ chiếm một vị trí quan trọng trong các kế hoạch của Matxcơva đối với cuộc chiến tranh. Việc quan hệ với Trung Quốc ngày càng xấu đi, và tình trạng thù địch giữa hai cường quốc cộng sản này càng tăng cũng ảnh hưởng lớn đến phương hướng, chính sách của Liên Xô, và đôi khi quyết định quan điểm về chiến tranh của Ban lãnh đạo Liên Xô cùng các giải pháp ngoại giao của họ. Hơn nữa, trong chính sách Việt Nam của mình, Liên Xô còn phải xem xét đến các nước đồng minh Đông Âu; Anh-là nước đồng chủ tịch Hội nghị Geneva; Pháp là nước tham gia Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm 50 và nước chủ nhà tổ chức Hòa đàm Paris về Việt Nam trong giai đoạn 1968-1973.
Cuốn sách của tôi bắt đầu từ 1964, một năm quá độ cho cả Mỹ lần Bắc Việt Nam. Lúc đó vẫn có thể tránh một cuộc đối đầu quân sự thông qua việc tiến hành hội đàm đi tới thỏa hiệp hoặc ít ra cũng tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước này. Lúc đó thực ra không có một cản trở nào đối với một tiến trình như vậy, trừ những định kiến mạnh của các nhà lãnh đạo Mỹ về Chiến tranh Lạnh và ý chí quyết tấm chặn đứng chủ nghĩa cộng sản. Các cuộc ném bom của Mỹ chống Bắc Việt Nam sau này đã làm tiêu tan các khả năng đi đến một giải pháp hòa bình sớm sủa cho cuộc xung đột này.
Năm 1964 cũng là một năm quá độ đối với phía Liên Xô. Thái độ của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Dương chuyển biến dần dần từ một chính sách không can dự vào các sự kiện xảy ra đến chính sách ủng hộ mạnh mẽ những người cộng sản Việt Nam và cuộc đấu tranh của họ. Bước ngoặt trong thay đổi chính sách này chính là cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8 năm 1964.
Việc nghiên cứu dừng lại ở thời điểm 1973, năm mà các bên ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình ở Việt Nam. Việc này chấm dứt sự dính líu trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến và mở ra một giai đoạn mới của cuộc xung đột là giai đoạn đối đầu giữa hai thế lực thù địch người Việt mà không có sự can thiệp nước ngoài. Giai đoạn sau năm 1973 cũng được đánh dấu bằng hàng loạt những diễn biến mới trong quan hệ quốc tế và quan hệ tay đôi giữa các nước này-và cần được phân tích trong một cuốn sách khác.
Tôi không hề có ý muốn đánh giá có tội hay vô tội đối với mỗi nước tham gia cuộc xung đọt này hoặc để tìm ra kẻ thù ác trong quá trình Chiến tranh Việt Nam. Những nước tham chiến xác định hành động của mình bằng các hệ thống giá trị khác nhau đến nỗi đôi khi khó có thể tìm ra được sự tương đồng nhỏ nhất giữa các giá trị này. Điều mà bên này cho là đúng đắn lại hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với bên kia. Chính phủ Mỹ coi hành động của họ là đúng đắn vì mục đích của họ là nhằm ngăn chặn sự chà đạp của người cộng sản đối với quyền tự do của nhân dân Nam Việt Nam. Còn Hà Nội thì tuyên bố cuộc chiến tranh của mình là chân chính và vì phẩm giá trên cơ sở chủ quyền quốc gia, thống nhất nước Việt Nam, và giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị tư bản. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô lại có các động cơ riêng, tuy gần gũi với các động cơ của Bắc Việt Nam nhưng vẫn không hoàn toàn tương đồng. Mỗi bên tham gia trong cuộc xung đột đều có thể đưa ra hàng ngàn những ví dụ chứng minh cho hành động vô nhận đạo của phía đối phương. Nhưng các nhà lãnh đạo của bất cứ nước nào tham gia cuộc xung đột này đều được hướng theo những xem xét, cân nhắc về đạo lý. Đặc biệt trong trường hợp ngoại giao, đạo lý được coi là cơ sở chủ yếu cho các hoạt động tuyên truyền.
Để cố gắng thấu hiểu được động cơ và chính sách của các nhà lãnh đạo chính trị, tôi hoàn toàn chia sẻ kết luận của nhà sử học người Anh F.A.Simpson rằng: “Cách thức dễ dàng nhất để viết sử hay để xây dựng lên những người anh hùng hoàn hảo và những kẻ hung đồ thực sự. Đó không chỉ là sự tìm tòi khám phá ra các đặc điểm nhân vật vô giá về nghệ thuật mà việc phát hiện ra chúng thực sự là quá trình loại bỏ các bằng chứng. Nhiệm vụ thẩm tra các bằng chứng thật tẻ nhạt, và kết quả thu lại là có thể làm mất đi hình tượng người hùng và gần như chắc chắn là mất đi chất hung đồ của con người”.
Để thấu hiểu được các động cơ trong chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam, toi không thể lẩn tránh nhiều vấn đề quan trọng: mức độ Matxcơva nghiêng về tăng cường quan hệ với phương Tây, đặc biệt là với Mỹ ảnh hưởng đến các quyết định của Kremlin ủng hộ Bắc Việt Nam trong Cuộc Kháng chiến chống xâm lược Mỹ như thế nào? Việc lo củng cố uy tín trong Phong trào cộng sản thế giới và cuộc cạnh tranh với Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định đến thái độ của giới lãnh đạo Liên Xô đối với Cuộc chiến tranh ở Việt Nam không? Liệu có sự mâu thuẫn giữa việc Liên Xô viện trợ quân sự cho Hà Nội và Liên Xô khuyến khích một giải pháp thông qua đàm phán đối với cuộc xung đột này không?
Tôi không hề ngần ngại để đưa ra các câu trả lời có tính chất khẳng định đối với các câu hỏi này cũng như các câu hỏi khác. Không phải toàn bộ các tài liệu về vấn đề trên đều sẵn có cho tôi nghiên cứu phân tích, ngay cả khi hồ sơ lưu trữ ở Nga đã có lúc được công khai mở cửa cho nghiên cứu hơn hiện nay. Một số tài liệu chứa đựng các bằng chứng trực tiếp về quá trình ra quyết định ở cấp cao nhất hiện được lưu giữ ở Kremlin và không thể tiếp cận được. Những người hy vọng tìm kiếm được thêm nhiều chi tiết về nội dung, về việc hợp tác về kinh tế, quân sự giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam, cũng như về các chiến dịch tuyên truyền ủng hộ nhân dân Việt Nam, có thể bị thất vọng, vì cuốn sách này chỉ tập trung nghiên cứu phân tích về mặt ngoại giao của cuộc xung đột này và dành lại tất cả các lĩnh vực khác để mọi người nghiên cứu đánh giá thêm.
Về mặt nào đó, quyển sách này chỉ là một toan tính để phụ họa thêm cho biểu tượng lịch sử đáng chú ý của Cuộc chiến tranh Việt Nam hiện vẫn tồn tại sinh động trong thế giới Tây phương, với cái nhìn từ ”phía bên kia chiến tuyến”. Cách nhìn này có thể là lần đầu tiên, chỉ dựa trên các bằng chứng hồ sơ tài liệu. Nhưng có nhiều vấn đề, mối liên hệ cùng các khoảng cách khác nhau trong nhìn nhận vấn đề cần phải giải quyết. Khi việc mở kho hồ sơ lưu trữ ở Nga, cũng như ở Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp tục, thì sẽ có nhiều cơ hội để nghiên cứu viết thành một lịch sử quốc tế toàn diện về cuộc xung đột này và để đóng góp giúp hiểu biết sâu sắc hơn về Kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh với đầy rẫy những nghịch lý của nó.

noitiengtunho
04-02-06, 09:14 PM
Chương I: “Đêm trước" của cuộc chiến
Chiến tranh giống như một tấm thảm kịch, có đoạn mở của nó. Nhưng thật bất hạnh là ít người có thể nhận ra được điều đó trước khi quá muộn. Mặt khác, ai biết được có bao nhiêu cuộc chiến tranh có thể đã được tránh không xảy ra.
Đầu năm 1964, không một ai có thể dự đoán được rằng, thế giới sẽ nhanh chóng chứng kiên một cuộc xung đột ở Đông Dương có tác động đến nhiều quốc gia và hệ thống lớn các mối quan hệ quốc tế. Mặc dù, nhiều nhà quan sát đã rất lo ngại về tình hình ở Đông Nam Á và báo động về những phát triển nguy hiểm ở trong khu vực, nhưng đa số các chính trị gia và các nhà phân tích chính trị hy vọng là có thể tránh được bước ngoặt chết người của các sự kiện trên. Trong số đó có các nhà lãnh đạo Xô Viết, những người có lý do riêng của họ để đặt nhiều hy vọng về vấn đề này.
Năm 1964, ở Liên Xô người ta bắt đầu xuất bản một thứ của Nikita S.Khrushchev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô gửi nguyên thử các quốc gia trên toàn thế giới vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng này dự định (theo cách đặt vấn đề của ông) là “thu hút sự quan tâm tới một trong những vấn đề (theo quan điểm của chúng tôi) rất quan trọng cho sự nghiệp củng cố hòa bình” đó là về những cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia và các biện pháp giải quyết của họ.
Bức thư này là một sự khởi đầu mang tính hòa bình rất đặc trưng của Xô Viết tập trung vào việc miêu tả Liên Xô là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình một cách bền bỉ. Đồng thời bức thư cũng thể hiện quan điểm của Liên Xô về tình hình quốc tế lúc đó. Bức thư cũng bao gồm những đoạn nói về Việt Nam, mặc dầu điều này không rõ ràng là vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, Khrushchev viết: “Xét theo một vài khía cạnh thì một vấn đề nữa liên quan đến lãnh thổ. Đây là vấn đề sự thống nhất đất nước ở Đức, Triều Tiên và Việt Nam. Sau chiến tranh (Thế giới thứ II), mỗi nước này đã bị chia làm hai nước với những hệ thống xã hội khác nhau. Mong muốn thống nhất đất nước của nhân dân ở các nước đó đáng thông cảm và tôn trọng. Tất nhiên, nguyện vọng thống nhất đất nước phải được giải quyết bởi chính người dân trong các nước đó và bằng chính quyền của họ, chứ không phải bằng sự can thiệp quân sự từ bên ngoài hoặc xâm lược, ví dụ như đã xảy ra ở Nam Triều Tiên và Nam Việt Nam”…
Mặc dù Việt Nam được đề cập đến ở đoạn cuối trong phần bức thư của Khrushchev, nhưng tình hình ở Đông Dương vẫn là mối lo ngại chủ yếu đói với Matxcơva và được coi như là một sự khác nhau cơ bản so với những diễn biến ở Đức và Triều Tiên. Trong bức thư của mình ông đã khẳng định quan điểm sau: “Để giải quyết được vấn đề này thì việc tránh sử dụng vũ lực, cho phép người dân ở những nước đó giải quyết những yêu cầu về thống nhất đất nước một cách hòa bình là cần thiết. Tất cả các quốc gia khác phải khuyến khích cách làm này”.
Rõ ràng là tình hình bất ổn ở Việt Nam đã làm các nhà chính trị Xô Viết lưu tâm khi họ đề cập đến Việt Nam ở hai đoạn trên trong bức thư của Khrushchev. Nhưng liệu lời phát biểu này có phải là sự quan tâm của một nước xã hội chủ nghĩa này đối với nước xã hội chủ nghĩa khác? Xét theo một vài khía cạnh nào thì điều này là đúng bởi vì nghi lễ xã giao đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị của Matxcơva.
Nhưng các nhà lãnh đạo Xô Viết dường như cũng đã lưu tâm đến các sự kiện ở Việt Nam từ năm 1964.
Không có điều gì bí mật đối với Matxcơva rằng kể từ năm 1959 các nhà cộng sản Việt Nam đã tập trung vào việc thống nhất đất nước bằng quân sự. Những tài liệu chính thức của Đại hội Đảng lao động lần thứ 3 (Đảng của những người công nhân ở Việt Nam, được tổ chức vào tháng 9 năm 1960) đã được in ấn tại Liên Xô vào năm 1961, đã chứng tỏ sự xác định của Đảng đối với việc tăng gấp đôi nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đó là sự công nhận Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam và Công cuộc giải phóng miền Nam khỏi “sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” và Công cuộc thống nhất đất nước.
Theo nghị quyết của Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam năm 1959 và cuộc họp đặc biệt của Bộ Chính trị diễn ra vài tháng sau đó, thì nhiệm vụ này bao gồm cả việc định hướng cho các đảng viên Cộng sản Việt Nam về một cuộc đấu tranh quân sự để thống nhất đất nước. Hà Nội tin rằng sẽ có “một tình thế cách mạng” ở Nam Việt Nam. Do vậy mà người ta quyết định tăng cường những nỗ lực quân sự ở miền Nam kết hợp với “một cuộc phản công chống lại kẻ thù trên mặt trận chính trị”. Ủy ban Trung ương Đảng Bắc Việt Nam đã đưa ra một kế hoạch hành động cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ này.
Tất cả những biện pháp này cũng với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (viết tắt là NLFSV, hoặc Việt Cộng, một tổ chức mang tư tưởng và được sự trợ giúp của Bắc Việt Nam) tháng 12 năm 1960, đã cho những người Xô Viết thấy rằng có một số phát triển mới đang được hình thành trong khu vực. Đầu tiên, những sự kiện ở Đông Nam Á dường như rất có ý nghĩa đối với Matxcơva. Khu vực này chưa bao giờ là mối quan tâm chính của giới lãnh đạo Xô Viết bởi sự xa xôi và yếu kém của phong trào cách mạng trong khu vực. Sự trợ giúp của Liên Xô cho Việt Minh đối với cuộc chiến Đông Dương đầu tiên và đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau năm 1954 là một ngoại lệ. Nhưng trong cả hai trường hợp này, viện trợ của Liên Xô vẫn ít hơn so với Trung Quốc, là nước mà các lãnh đạo Việt Nam có những quan hệ chặt chẽ hơn.
Điều này cũng đúng khi xem xét đến sự hợp tác quân sự giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam. Trong Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của người Việt Nam, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã viện trợ cho Việt Nam vô số vũ khí đạn dược. Sau năm 1954, Liên Xô tham gia vào việc tổ chức lại các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đã gửi tới Việt Nam các cố vấn quân sự và vũ khí, một số đã được chuyển cho Việt Cộng. Nhưng sự giúp đỡ này là không đáng kể.
Vì vậy, trước năm 1964, Liên Xô chủ yếu vẫn là một quan sát viên trước những diễn biến ở Việt Nam. Với vai trò này đã phục vụ cho chiến lược cùng tồn tại hòa bình của Khrushchev với phương Tây và tránh những cuộc xung đột giống như cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962. Với vị thế này có thể thực hiện được trong bối cảnh ở Đông Dương vẫn tồn tại một cuộc đấu tranh giữa các phe nhóm khác nhau của xã hội Việt Nam. Thậm chí việc các cố vấn quân sự Mỹ được phái tới miền Nam Việt Nam cũng không thể hiện mối quan ngại nhiều đối với Matxcơva bằng sự lớn mạnh về ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Liên Xô có thể tiếp tục đưa ra những bài phát biểu và những tuyên bố kêu gọi một giải pháp hòa bình đối với vấn đề thống nhất đất nước, Liên Xô có thể đảm bảo với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về sự ủng hộ của họ trong cuộc kháng chiến của những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam, Liên Xô có thể cung cấp cho họ (thông qua Hà Nội), viện trợ hứa hẹn dưới dạng vũ khí của Đức, cung cấp dược phẩm y tế và như vậy có thể xây dựng những mối quan hệ ổn định với phương Tây. Thế nhưng quyết định của Trung ương Đảng Lao động vào năm 1959 và 1960 đã thách thức những chiến thuật này của Kremlin.

noitiengtunho
04-02-06, 09:18 PM
Bằng việc thay đổi những quan điểm của Liên Xô vào đầu năm 1964 cũng nhanh chóng làm sâu sắc mối bất hòa giữa Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự xung đột giữa hai Đảng cộng sản lúc đó đã phát triển tới một sự kình địch công khai và những giai đoạn ngừng xung đột ngày càng trở nên hiếm hoi. Sự bất hòa Trung-Xô đã tác động mạnh mẽ đến những cân nhắc của Liên Xô đối với khu vực Đông Nam Á.
Ảnh hưởng của Trung Quốc vào khu vực này luôn luôn mạnh mẽ, không chỉ bởi lý do địa lý duy nhất. Vào đầu những năm 60, vị trí của Trung Quốc trong khu vực, đặc biệt đối với Việt Nam, thậm chí còn phát triển mạnh mẽ hơn. Các nhà cộng sản Trung Quốc và Việt Nam phát hiện ra rằng họ có nhiều điểm chung trên con đường đi tới phong trào cộng sản thế giới, về vai trò của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và về việc cùng tồn tại hòa bình với các nước tư bản chủ nghĩa. Họ có chung một tình cảm rất sâu nặng về Chủ nghĩa dân tộc mà điều đó đã thống nhất quan điểm của họ về thái độ đối với các “đồng chí” Liên Xô.
Do có những triển vọng về mọt nước Việt Nam thống nhất, nên Hà Nội và Bắc Kinh có một sự nhất trí rằng đấu tranh chính trị, quân sự là những biện pháp chính để đạt được mục đích này. Những bất đồng nhỏ về những vấn đề như thế này là: Liệu Bắc Việt Nam có nên gửi lực lượng quân sự để giúp đỡ lực lượng Giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam trong Cuộc kháng chiến chống Mỹ và “bè lũ tay sai” hay không? Liệu Việt Cộng có nên trông cậy vào lực lượng quân sự riêng của mình hay không? Đã ít được để ý đến.
Sự phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á xảy ra đồng thời với sự giảm đi một cách tương đối lợi ích của Liên Xô trong khu vực. Khrushchev dường như đã được thuyết phục rằng cách thức tối ưu để giải quyết với những hoàn cảnh trên là để cho chúng tự phát triển với sự dính líu ít nhất của Liên Xô, giới hạn chủ yếu ở sự ủng hộ về tinh thần. Quan điểm này vẫn giữ nguyên, không thay đổi cho đến khi có chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tới Matxcơva vào tháng 1, 2 năm 1964.
Đoàn đại biểu Việt Nam tới Mát-xcơ-va vào ngày 31 tháng 1 do Lê Duẩn dẫn đầu, cùng với những đại diện lỗi lạc của giới lãnh đạo Hà Nội như Lê Đức Thọ và Hoàng Văn Hoan (cả hai là Ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Báo Pravda đăng một bài ngắn gọn về chuyến thăm của những người Việt Nam này mà không có một lời tiết lộ nào về mục đích của chuyến đi. Độc giả đã có thể cho là những con người Việt Nam này đến chủ yếu là để thăm quan Matxcơva-Lăng Lê-nin, Cung điện Thanh niên, Nhà hát lớn.
Nhưng vào ngày 9 tháng 2, báo Pravda đã in trên trang nhất về cuộc họp ở Điện Kremlin giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev cùng với một bức ảnh chụp nhà lãnh đạo Xô Viết đang mỉm cười và những gương mặt rạng rỡ của các vị khách. Bài báo nhận xét rằng, cuộc gặp đã diễn ra trong bầu không khí “thắm tình hữu nghị” và những vấn đề về lợi ích chung đã được thảo luận.
Quan trọng hơn là đoạn tiếp theo đã nhấn mạnh rằng: “Cả hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của Phe xã hội chủ nghĩa và Phong trào Cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị của CPSV (Đảng cộng sản Liên Xô) và PTV (từ Nga chỉ Đảng của giai cấp công nhan Việt Nam) của Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin và những nguyên tắc cơ bản của phong trào vô sản quốc tế. Cả hai Đảng đã đặt chính sách của họ dựa trên những nguyên tắc của cương lĩnh và tuyên bố của các Đảng cộng sản vì công nhân”. Câu cuối cùng này ám chỉ rằng không có sự khác biệt giữa hai đảng đối với vấn đề trên và đó là trung tâm của sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc. Theo bài báo đó thì Đảng Lao động Việt Nam dường như là người ủng hộ mạnh mẽ cho những người Xô Viết.
Nhưng tình hình thực tế thì phức tạp hơn. Tháng 3 năm 1964, trong một bức điện của Ban bí thư Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô gửi Đại sứ Liên Xô ở Paris đã đưa nội dung chi tiết của những cuộc thảo luận trong chuyến thăm của Lê Duẩn và các đồng chí của ông ta ở Liên Xô. Nội dung của bức điện đã thể hiện rõ ràng rằng chuyến thăm này đã được các nhà lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị với mục đích là khuyên các đối tác Xô Viết của họ hãy ủng hộ những quyết định của Đảng Lao động tại Hội nghị lần thứ 9 Ủy ban Trung ương tháng 12 năm 1963 và xem xét lập trường của Liên Xô đối với những quyết định này, để đạt được mục đích trên, những người Việt Nam đã chuẩn bị một bài phát biểu dài bảy mươi ba trang để giải thích quan điểm của họ về “những vấn đề chiến tranh và hòa bình, về phong trào giải phóng dân tộc và về sự thống nhất của Hệ thống cộng sản thế giới và Phe xã hội chủ nghĩa”. Hơn nữa, Lê Duẩn cũng lưu ý rằng phái đoàn của ông ta chỉ đề cập đến những vấn đề có sự khác nhau về mặt quan điểm giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng cộng sản Liên Xô.
Hội nghị lần thứ 9, Đảng của những người công nhân cũng đã đưa ra một quyết tấm to lớn nhằm chuẩn bị một cuộc tổng khởi nghĩa ở miền Nam và đã dưa ra một chiến lược cho cuộc khởi nghĩa này. Hội nghị này đã nhấn mạnh đến nhu cầu hình thành những đơn vị vũ trang hùng mạnh và “định rõ việc đấu tranh ở ba khu vực chính của miền Nam: vùng núi, nông thôn và thành thị. Những người Cộng sản Việt Nam cũng tin rằng “sự phối hợp của các lực lượng” đã trở thành lợi thế cho sự thành công của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Mặc dù thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng này có thể giành được chỉ sau một giai đoạn chuyển tiếp”.
Quyết định theo đuổi một cuộc đấu tranh quân sự của Hội nghị 9 đòi hỏi không chỉ sự huy động tất cả các nguồn lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà cả sự giúp đỡ của các đồng minh, đặc biệt là từ Trung Quốc và Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam đến Matxcơva dưới dạng một phái đoàn thăm dò để khẳng định thái độ của Liên Xô đối với Việt Nam.
Trong những lần gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Xô Viết, các sứ giả Việt Nam không bó hẹp trong những vấn đề của Việt Nam và Đông Nam Á. Họ muốn biết quan điểm của Liên Xô trên phạm vị lớn của các vấn đề vì họ hiểu rằng bất kỳ một sự bất đồng nào đều có thể cản trợ hoặc làm phức tạp nghiêm trọng đến sự hợp tác giữa hai nước. Ấn tượng của Matxcơva trong những cuộc thảo luận này là quan điểm ở các đồng nghiệp Việt Nam của họ, thể hiện sự ảnh hưởng rất mạnh từ Bắc Kinh nhưng mềm dẻo hơn.
Lê Duẩn và các đồng nghiệp của ông ta đã không ngần ngại chỉ trích lập trường của Liên Xô trên những vấn đề như cùng tồn tại hòa bình với các nước phương Tây, việc giúp đỡ của Liên Xô cho Ấn Độ trong cuộc xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc, việc Liên Xô từ chỗ giúp đỡ Trung Quốc chế tạo vũ khí hạt nhân và sự kiém nhiệt yình của Liên Xô trong việc giúp đỡ các Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Những người Việt Nam tin rằng có một hiểm họa thật sự về cuộc chiến tranh hạt nhân và rằng nền hòa bình chỉ có thể được bảo vệ thực sự bằng những cách thức của một cuộc đấu tranh cách mạng. Cùng tồn tại hòa bình với các nước tư bản sẽ làm hạn chế tính triệt để của cuộc đấu tranh với “chủ nghĩa tư bản cố hữu” và đánh bại nó từng bước. Các nhà lãnh đọa Liên Xô đã kết luận: “Nói cách khác, các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thực sự đã loại bỏ cơ hội theo đuổi một chính sách cùng tồn tại hòa bình”.

noitiengtunho
04-02-06, 09:22 PM
Theo phía Matxcơva, khi thể hiện quan điểm của họ về Phong trào giải phóng dân tộc, Lê Duẩn đã cường điệu hóa vai trò của họ trong “sự nghiệp cách mạng” vào các nước thuộc thế giới thứ ba và tin rằng khả năng thành công của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở châu Á, Phi và Mỹ La tinh sẽ sâu hơn so với các nước phát triển ở phương Tây. Do vậy, nhiệm vụ chính của các nước xã hội chủ nghĩa và Phong trào Cộng sản quốc tế là tập trung những nỗ lực của họ để tạo ra “một bước đột phá vào sự liên kết yếu ớt giữa các mắt xích của chủ nghĩa đế quốc”. Các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tin rằng hầu như không có một điều kiện thích hợp nào cho việc tổ chức những cuộc cách mạng dân chủ toàn quốc và tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách hòa bình.
Những người Xô Viết kết luận: “Các nhà lãnh đạo Việt Nam tin rằng, chính các Phong trào giải phóng dân tộc (chức không phải hệ thống xã hội chủ nghĩa), đóng một vai trò tiên phong trong tiến trình cách mạng thế giới”. Như vậy, các vị khách từ Hà Nội đã “coi nhẹ tầm quan trọng của sự giúp đỡ mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã cung cấp cho những người đấu tranh cho tự do và độc lập dân tộc”. Các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nhấn mạnh đến cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại và sự đoàn kết với phong trào cộng sản thế giới-Họ ủng hộ ý tưởng về một Hội nghị của các Đảng cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế-nhưng khăng khăng yêu cầu về cuộc đàm phán sơ bộ giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng cộng sản Trung Quốc.
Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã không thỏa mãn với lập trường của Hà Nội. Khrushchev đã cho phía Việt Nam hiểu rằng sẽ không có triển vọng cho việc hợp tác chặt chẽ giữa hai nước nếu Hà Nội không thay đổi lập trường của họ, khi Lê Duẩn và các đại biểu khác ở Kremlin, ông ta đã nhấn mạnh “một cách thẳng thắn và thân tình” sự thiếu nhất quán giữa các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam thể hiện sự thông cảm đối với Đảng cộng sản Liên Xô và Liên bang Xô Viết với các hành động thực tế của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Khrushchev đã cảnh báo các đối tác của ông rằng, những hành động như vậy là đi ngược lại sự đoàn kết và hợp tác giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng cộng sản Liên Xô và cũng không phù hợp với lợi ích của xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới.
Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã công khai thể hiện sự quan tâm đối với những Nq của Hội nghị 9 Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và cảnh báo về hậu quả xấu có thể xảy ra trong chính sách của Hà Nội. Thực sự những ấn tượng do báo Pravda tạo ra về cuộc gặp giữa Khrushchev và đoàn đại biểu Việt Nam chỉ là sự lừa bịp. Giữa hai nước có nhiều bất đồng hơn là nhất trí. Tuy nhiên, Matxcơva vẫn lạc quan về chuyến thăm của đoàn đại biểu Việt Nam. Sau khi nhận ra ra điều này, các nhà lãnh đạo của Đảng Lao động đã thực thi rõ nét lập trường ủng hộ Trung Quốc, một Bí thư của Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô đã viết trong bức điện gửi đến Pháp: “Cùng với việc đó, cách cư xử của các đại biểu Việt Nam, cách thức trình bày các vấn đề của họ làm cho ta có thể kết luận rằng Đảng cộng sản Liên Xô và các đảng anh em khác có thể duy trì và phát triển các mối liên hệ với Đảng Lao động Việt Nam trong khi vẫn kiên trì giải thích cho họ về đường hướng chung của Phong trào cộng sản thế giới, đó là đồng ý với các ý kiến tại các Hội nghị quốc tế năm 1957, 1960, và nêu lên mối hiểm họa của tình hình chia rẽ bè phái hiện tại của Trung Quốc và những người ủng hộ các bè phái này”.
Rõ ràng là, mặc dù không đồng ý với các quan điểm của các đồng chí Việt Nam, người Xô Viết không mong muốn loại bỏ triển vọng của sự hợp tác. Nhưng điều đó có nghĩa là sự hợp tác này phụ thuộc vào sự thay đổi thái độ của Hà Nội đối với Matxcơva. Trong khi đó những người Xô Viết chỉ hạn chế sự giúp đỡ của họ đối với Việt Nam về mặt tinh thần. Vài ngày sau chuyến thăm, một chương trình tuyên truyền mạnh mẽ này có thể đã được thiết kế để bù lại sự thiếu thiện chí của Matxcơva trong việc giúp đỡ về vật chất nhiều hơn đối với Việt Nam.
Ngày 12 tháng 2 năm 1964, chỉ hai ngày sau khi đoàn đại biểu Việt Nam rời Matxcơva, báo Pravda đã đăng một bài báo với tựa đề: “Không ai có thể chiến thắng những người yêu nước Nam Việt Nam”, với chữ ký đầy ý nghĩa là “người quan sát”. Tác giả dấu tên này đã đảm bảo với “những người yêu nước” rằng Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và rằng Liên Xô vẫn là “một người bạn đáng tin cậy của tất cả những ai đấu tranh cho hòa bình, tự do và giải phóng dân tộc”.
Hai tuần sau, tờ Pravda lại đăng một bài báo về Việt Nam, nhưng lần này là một bài viết chính thức do TASS đưa ra, tuyên bố rằng “Nhân dân Liên Xô không thể thờ ơ với những biến chuyển ở Đông Nam Á”. Bài báo một lần nữa nhấn mạnh rằng nhân dân Liên Xô là “những người ủng hộ trung thành chính sách đoàn kết với những ai đấu tranh cho tự do và độc lập và rằng Liên Xô sẽ tiếp tục cảm thông sâu sắc với Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa của những người yêu nước miền Nam Việt Nam và sẽ có thể có sự giúp đỡ cần thiết cho Cuộc đấu tranh này”.
Lời hứa về sự “giúp đỡ cần thiết” có thể đã được nghĩ ra không chỉ cho những người bạn Việt Nam của Matxcơva, mà còn dành cho cả Mỹ. Các nhà lãnh đạo Xô Viết hiểu rằng những diễn biến nguy hiểm ở Đông Nam Á có thể được ngăn chặn khi có sự kiềm chế của cả Hà Nội và Washington. Đó là lý do tại sao mà Matxcơva nhắc đi nhắc lại không mệt mỏi về việc chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam là cần thiết cho việc bình thường hóa tình hình troỏng khu vực Đông Nam Á.
Những lời hứa giúp đỡ Việt Cộng để biện hộ cho vị trí của Liên Xô với các đồng minh cộng sản của họ mà bằng chứng là chuyến thăm Matxcơva tháng 7 năm 1964 của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được Ủy ban đoàn kết Á-Phi của Liên Xô mời. Sự kiện này đã chứng minh rằng các nhà lãnh đạo Xô Viết tránh những tiếp xúc chính thức với Việt Cộng ở cấp nhà nước. Trong các cuộc gặp với đại diện của Ủy ban đoàn kết Á-Phi, những người Cộng sản ở Nam Việt Nam đã đưa ra một số những yêu cầu, bao gồm cả những yêu cầu về việc tăng viện trợ vũ khí, đạn dược. Đặc biệt là họ yêu cầu viện trợ y tế và tiền (bằng đô la Mỹ). Họ cũng chuẩn bị mở một phái đoàn thường trực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Liên Xô, nếu như có được một lời mời sẵn sàng từ phía Chính phủ Liên Xô.
Ủy ban đoàn kết Á-Phi đã đề nghị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và đề nghị này cũng như những yêu cầu từ phía các đại biểu miền Nam Việt Nam đã được Ban đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản (Liên Xô) cân nhắc. Ban đối ngoại đã chuẩn bị một bản dự thảo để đáp lại những người yêu nước Việt Nam. Ban này đề nghị rằng Ủy ban đoàn kết Á-Phi và các tổ chức quần chúng của Liên Xô sẵn sàng cung cấp thuốc men cho Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, mời một nhóm bệnh binh mới đến chữa ở các bệnh viện của Liên Xô, cho phép thanh thiếu niên từ miền Nam Việt Nam tới học tại các trường trung học chuyên nghiệp và đại học ở Liên Xô. Về việc viện trợ quân sự, Ủy ban này đã thông báo với các đại biểu rằng đây là vấn đề thuộc trách nhiệm của Nhà nước và phải được quyết định ở cấp Nhà nước giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc vận chuyển vũ khí cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phải thông qua Hà Nội. Nhưng Ủy ban này đã từ chối đón tiếp đoàn đại biểu ở cấp trung ương, bởi vì nếu trường hợp đó xảy ra thì “các nhà yêu nước” có thể “lại một lần nữa” yêu cầu được viện trợ vũ khí và tài chính và đồng thời phải trả lời một cách dứt khoát. Ủy ban này cũng đề nghị tránh trả lời vấn đề thành lập phái đoàn thường trực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã đồng ý với những đề nghị trên

noitiengtunho
04-02-06, 09:26 PM
Chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam có một số hạn chế, đó là chỉ ủng hộ trên lĩnh vực tuyên truyền và hạn chế trên tất cả các lĩnh vực hoạt động khác. Rõ ràng là Hà Nội không thỏa mãn với lập trường của Matxcơva. Để biến những kế hoạch thống nhất đất nước thành hiện thực, Bắc Việt Nam cần sự giúp đỡ vật chất dưới dạng vũ khí, đạn dược, lương thực và các phương tiện vận tải từ các đồng minh của họ. Vào mùa hè năm 1964, chỉ có Trung cộng là sẵn sàng cung cấp những viện trợ như trên, mà việc làm này phần nào đó trùng khớp với những quan điểm của Trung Quốc về những diễn biến đang xảy ra ở Đông Nam Á. Kết quả là, vị thế của Liên Xô đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhanh chóng bị phai mờ, trong khi đó ảnh hưởng của Trung Quốc phát triển vững chắc. Matxcơva đã có thể bằng lòng với vị thế này để duy trì sự ổn định trong khu vực. Nhưng tiến trình của các sự kiện ở Đông Dương dần dần đã dẫn đến cuộc chiến. Nếu Liên Xô hy vọng tháo bỏ giải pháp quân sự của Bắc Việt Nam bằng cách từ chối không cung cấp tất cả sự giúp đỡ từ bên ngoài thì thực sự họ đã bị thất bại. Hà Nội vẫn kiên trì trong quyết tấm đạt tới mục tiêu của mình bằng tất cả các biện pháp, trong đó có quân sự. Thep Spasovski (đại diện của Ba Lan ở Ủy ban kiểm soát quốc tế vè Việt Nam), lập trường của Hà Nội đã được khẳng định. Trong một lần nói chuyện với Konstatin (Đại sứ Liên Xô ở Campuchia), Spasovski, người vừa đến thăm Hà Nội, đã nói với đồng nghiệp Xô Viết của ông ta rằng Bắc Việt Nam đã sẵn sàng tham chiến với Mỹ và chế độ Sài Gòn để giành thắng lợi hoàn toàn, mặc dù điều đó có nghĩa là sẽ xảy ra một cuộc chiến kéo dài nhiều năm.
Bắc Kinh đã khuyến khích quyết tấm của các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành cuộc chiến lâu dài. Khoảng đầu năm 1956, Mao Trạch Đông đã nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Không thể giải quyết vấn đề chia cắt đất nước trong chốc lát. Nó cần một thời gian… nếu mười năm không đủ, chúng ta sẵn sàng đợi đến một trăm năm”. Sau đó ý kiến này đã được các cố vấn Trung Quốc đã liên tục nhắc đi nhắc lại.
Tương tự như vậy, hy vọng của các nhà lãnh đạo Xô Viết rằng việc tuyên bố ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự có thể hạn chế Mỹ leo thang trong cuộc chiến ở Đông Dương hóa ra là vô ích. Cũng trong cuộc nói chuyện với Krutikov, Spasovski đã trích lời của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng rằng, Bắc Việt Nam có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi cho một cuộc rút lui của Mỹ trong danh dự, nếu như chính quyền Mỹ mong muốn điều đó. Nhưng thật không mau, theo nhận xét của Spasovski, người Mỹ đã không biểu lộ mong muốn như vậy.
Sự e ngại của Matxcơva tăng lên khi tình hình ở Đông Nam Á ngày càng phức tạp. Điều đó đã thể hiện trong diễn biến hoạt động của Chính phủ Liên Xô ngày 27 tháng 7. Việc Liên Xô đe dọa rút khỏi chức Chủ tịch Hội nghị Geneve về Lào là một lời cảnh báo rõ ràng từ phía Matxcơva đối với các bên tham chiến ở Đông Dương. Nhưng thậm chí sự thể hiện này của Liên Xô cũng đã không làm chậm lại được tốc độ của cuộc xung đột mà điều đó trở nên thực sự nguy hiểm vài ngày sau đó ở Vịnh Bắc Bộ, khi Mỹ buộc tội Bắc Việt Nam rằng tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công hai trong số những tàu tuần tiễu của Mỹ khi đang làm nhiệm vụ:
Ngày 3 tháng 8, báo Pravda có một mẩu tin ngắn về sự kiện ở Vịnh Bắc Bộ, trích dẫn nguồn tin từ Tổng hành dinh của Tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Không một ai trong số các độc giả của tờ báo chú ý đến đoạn tin này. Thậm chí rất ít người trong số họ biết được Vịnh Bắc Bộ ở đâu. Nhưng đối với các nhà lãnh đạo Xô Viết thì tin tức này là đáng chú ý: tình hình ở Đông Nam Á đã tới độ nguy hiểm. Khi Việt Nam còn đang ở trong một cuộc nội chiến với sự tham gia hạn chế của các cố vẫn Mỹ, thì Matxcơva có thể cung cấp sự giúp đỡ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mà không can thiệp sâu hơn vào tình thế phức tạp của Việt Nam. Trong bối cảnh như vậy, Liên Xô có thể chống trả lại sự chỉ trích ác liệt của Trung Quốc cho rằng Liên Xô tìm kiếm để đạt tới một sự thỏa hiệp với phương Tây bằng chính sinh mệnh đồng minh của họ. Nhưng một khi cuộc chiến tranh tổng lực xảy ra tại Việt Nam, thì Kremlin có thể phải có một lập trường rõ nét hơn, thậm chí điều đó có thể gây tổn hại đến quan hệ giữa hai nước.
Sự việc xảy ra bất ngờ như vậy không có lợi gì đối với các nhà hoạch định chính sách của Liên Xô. Trong khi họ chủ động tìm thấy lợi ích từ sự sa lầy của Mỹ trong cuộc xung đột ác liệt, Việt Nam có thể là một trường hợp sai lầm của Liên Xô: đó là, học phải đối phó với nhiều nhân tố không xác định và với một đồng minh không đáng tin cậy. Do vậy, Liên Xô đã đáp lại sự kiện Vịnh Bắc Bộ với một thái độ có phần tương phản.

noitiengtunho
04-02-06, 09:29 PM
Ngày 5 tháng 8, TASS đã đưa ra một bản tin (cùng với sự thống kê các sự kiện) trong đó có cảnh báo với Mỹ rằng những hành động của Mỹ có thể dẫn tới một cuộc xung đột quân sự rộng lớn như các nhà quan sát đã nhận xét, giọng điệu của bản tin này rất ôn hòa. Cùng ngày hôm đó, Chủ tịch Khrushchev đã gửi một bức thư tới Tổng thống Lyndon Johnson. Một lần nữa, lời lẽ của bức thư rất thận trọng và dè dặt. Khrushchev đã thông báo với Tổng thống Jonhson, ông đã biết về sự kiện Vịnh Bắc Bộ: “Ngay từ lúc đầu, ngoài những tuyên bố đã được đưa ra trong những ngày gần đây ở Washington, từ mệnh lệnh đã được ban bố choc ác lực lượng quân đội Mỹ, từ các bản tin của các hãng thông tấn và cũng từ tuyên bố... của người phát ngôn của Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam… chúng tôi không có một thông tin nào khác”. Bằng cách thu hút sự chú ý của Jonhson vào các nguồn tin của ông ta, Khrushchev rõ ràng muốn nhấn mạnh một thức tế rằng Liên Xô không dính líu gì đến các cuộc xung đột ở Vịnh Bắc Bộ.
Sau đó, ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô này đã tiếp tục lập luận của mình, chỉ trích sự đáp lại bằng vũ lực của Mỹ chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lưu ý đến những hậu quả nghiêm trọng mà sự kiện này có thể gây ra đối với tình hình quốc tế. Điều này dường như là mối lo ngại chính của các nhà lãnh đạo Xô Viết. Khrushchev đã không chỉ rõ những khu vực, con người bộc lộ tham vọng thổi bùng lên lòng ham muốn, đổ thêm dầu vào lửa và ông cũng không chỉ rõ những kẻ trong trạng thái hiếu chiến nên xem xét một cách thận trọng và kiềm chế... Rõ ràng rằng Khrushchev đang đề cập đến ứng cử viên Tổng thống Đảng Cộng hòa Barry Goldwater, nhưng nhà lãnh đạo Xô Viết này cũng có thể đề cập đến Bắc Kinh với sự trợ giúp của họ trong Cuộc đấu tranh giành thống nhất bằng bạo lực của Việt Nam.
Thú vị hơn là, cũng trong số báo Pravda, với những tin tức về sự kiện Vịnh Bắc Bộ xuất hiện một cây bút tên là Ivanov (một cái tên rất thông dụng ở Nga), đã viết một bài báo tựa đề: “Một cuộc chiến tranh ư? Đó không phải là điều tồi tệ”. Tác giả đã trích dẫn những bài phát biểu của các quan chức cao cấp của chính phủ Trung Quốc, như Trần Nghị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Trung cộng và một quanc hức giấu tên khác để gửi cho một tờ báo của Áo ông ta nêu câu hỏi: Đại diện cao cấp của Trung Quốc đang nói gì?-và ông tiếp tục-“Cộng đồng thế giới đang lo lắng về tình hình căng thẳng ở Đông Nam Á. Liên Xô và các nước yêu chuộng hòa bình thực hiện mọi nỗ lực để ngăn chặn cuộc chiến đang bùng nổ trong khu vực này của thế giới. Nhưng một thành viên cao cấp của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sau những lập luận mập mờ đã nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn rằng: Chiến tranh ở Đông Nam Á không phải là một điều thực sự tồi”.
Trong bất kỳ một sự kiện nào, Khrushchev đều cố gắng thuyết phục Tổng thống Mỹ thể hiện sự bình tĩnh và kiềm chế đối với những diễn biến ở Đông Dương. Sự đề cập của ông ta tới “trách nhiệm to lớn” của hai cường quốc trong việc đảm bảo rằng những sự kiện nguy hiểm xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới sẽ không biến thành những yếu tố đầu tiên trong một chuỗi những sự kiện còn nghiêm trọng hơn và không thể đảo ngược” mà được ủng hộ bởi vai trò công bằng, công khai của Liên Xô đối với cuộc chiến”. Ông cũng nhấn mạnh rằng không có một yêu cầu Chính phủ Liên Xô đề cập đến Tổng thống Mỹ trong mối quan hệ với những diễn biến ở Vịnh Bắc Bộ: “Nếu có xuất hiện một mối đe dọa cho hòa bình, tôi tin tưởng một cách sâu sắc rằng chúng ta không phải đợi những lời yêu cầu và thỉnh cầu từ bất kỳ ai, mà chúng ta phải hành động nhằm loại bỏ mối đe dọa đó không một chút do dự”.
Tuy nhiên, lời kêu gọi của Khrushchev đã không làm thay đổi quyết tấm của Mỹ chống lại “xâm lược” của Bắc Việt Nam đối với chế độ Sài Gòn. Lời giải đáp của Johnson đối với bức thư của các nhà lãnh đạo Xô Viết để lại cho Matxcơva một hy vọng mỏng manh rằng những diễn biến ở Đông Nam Á có thể thay đổi cơ bản theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Tổng thống Mỹ nhấn mạnh một lần nữa rằng, đất nước ông “sẽ luôn dứt khoát và kiên định trong sự đáp lại tích cực đối với những hoạt động xâm lược và sức mạnh của chúng tôi thể hiện tương xứng với bất kỳ thách thức nào đó”.
Với sự đáp lại mang tính tiêu cực của Jonhson, điều rõ ràng đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô là sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã đánh dấu một bước ngoặt mới ở Đông Dương. Như Douglas Pike đã nhận xét: “Trong khi bản thân nó không có gì đặc biệt quan trọng, sự kiện Vịnh Bắc Bộ biểu tượng cho mối quan hệ mới mà Hà Nội đòi hỏi từ Matxcơva. Bản chất của chiến tranh đã thay đổi như là thực tế của nó: từ anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”. Nhưng phải trải qua một khoảng thời gian, Liên Xô và Bắc Việt Nam mới đạt được sự hợp tác toàn diện trong Cuộc chiến tranh chống “Đế quốc Mỹ”.
Trong khi đó, Matxcơva đã tiến hành bước đi đầu tiên trong lộ trình đạt tới mối quan hệ hữu nghị với Hà Nội. Một đại sứ mới của Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được chỉ định vào cuối tháng 8 năm 1964, Ilia S.Shcherbakov là một nhân vật lỗi lạc của Đảng cộng sản Liên Xô. Từ những năm 30, ông đã bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một viên chức của Đảng. Năm 1949, ông được đề bạt vào một chức vụ của Ban đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô. Ông đã tốt nghiệp Học viện quân sự-ngoại giao, một Học viện nổi tiếng của Liên Xô, chuyên đào tạo cán bộ tình báo cho hoạt động đối ngoại của Liên Xô. Trong Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản, Shcherbakov đã trưởng thành một cách nhanh chóng, năm 1953 ông đã là Vụ trưởng Ban đối ngoại có chức năng giám sát các mối quan hệ với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa. Ngay trước khi được bổ nhiệm tới Hà Nội, ông đã được điều tới Bắc Kinh với cương vị là Tham tán công sứ. Vì thế vị Đại sứ mới này hoàn hảo không chỉ trong hoạt động của Đảng mà cả trong hoạt động chính trị quốc tế.
Trên thực tế, Shcherbakov đã có được tất cả những phẩm chất cần thiết cho vị trí đại sứ của Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Như Cơ quan thông tin của Mỹ đã nhận xét trong một bản báo cáo: “Quan hệ của Liên Xô với Bắc Việt Nam được tăng cường vào cuối năm 1964”. “Điều mà người ta cần ở Hà Nội là một người có kinh nghiệm trên lĩnh vực này và một người có thể chiếm được lòng tin của các nhà lãnh đạo ở Điện Kremlin”. Những mối quan hệ của Shcherbakov ở Ủy ban trung ương cho phép ông ta không những thoải mái khi thực hiện chính sách của Matxcơva mà còn ít nhiều tự do thể hiện ý kiến của mình về những mối quan hệ Liên Xô-Bắc Việt Nam mà không sợ ai đó ở “Trung ương” (chỉ Điện Kremlin) phản đối quan điểm của ông. Những yếu tố này đã được các nhà lãnh đạo Xô Viết cân nhắc. Họ cần một bức tranh chính xác về các sự kiện xảy ra tại Việt Nam.

noitiengtunho
04-02-06, 09:33 PM
Bị mắc kẹt trong vòng lửa, các nhà lãnh đạo Xô Viết bắt đầu tìm kiếm lối thoát. Nhưng những sự thay đổi ở Kremlin chỉ làm căng thẳng thêm tiến trình này và đó không phải là điểm xuất phát. Điều này giải thích tại sao những chuyển hướng của Liên Xô đối với Cuộc chiến Việt Nam dường nưh diễn ra quá nhanh ngay sau khi “Ban lãnh đạo tập thể mới” lên nắm chính quyền.
Tuy nhiên các nhà lãnh đạo mới ở Điện Kremlin thông báo rằng chính sách đối ngoại của Liên Xô sẽ không thay đổi. Họ đã tuyên bố công khai về điều này tại nhiều diễn đàn khác nhau, cũng như trong các cuộc trao đổi kín với các chính trị gia phương Tây. Ví dụ nưh: Đại sứ Liên Xô ở Washington, A.Dobrynin đã gặp Tổng thống Johnson và đảm bảo với ông ta rằng Matxcơva vẫn cam kết thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của mình và báo Pravda đã nhanh chóng thông tin cho độc giả Xô Viết về cuộc gặp này.
Phớt lờ chuyện đó vào tháng 11, Matxcơva đã sẵn sàng chuyển hướng từ giúp đỡ mang tính tuyên truyền thuần túy cho Hà Nội và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sang viện trợ về vật chất nhiều hơn.
Các nhà lãnh đạo Xô Viết không từ bỏ các mối quan hệ của họ với Mỹ. nhưng sau tháng 11, các mối quan hệ này lại bị ràng buộc với các chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Một yếu tố mới và quan trọng bổ sung vào chính sách của Liên Xô trong giai đoạn quan trọng này: những nỗ lực của các nhà lãnh đạo Xô Viết nhằm tìm kiếm những biện pháp hòa bình để giải quyết Cuộc chiến Đông Nam Á.
Do đó, như Douglas Bile đã nhận xét, chính sách của Liên Xô trong Cuộc chiến Việt Nam thể hiện trên ba khía cạnh:
-Thứ nhất: Matxcơva đã quyết định trong một số giới hạn, Hà Nội có thể nhận được tất cả những giúp đỡ về kinh tế và quân sự cần thiết đủ để theo đuổi cuộc chiến.
-Thứ hai: Liên Xô không thể hy sinh chiến lược hòa hoãn của họ với phương Tây, nhưng thay vào đó Liên Xô có thể điều chỉnh chính sách Việt Nam theo hướng “nếu và khi cần thiết”.
-Thứ ba: Liên Xô tập trung vào việc giải quyết cuộc chiến bằng biện pháp thương lượng như một đảm bảo tối ưu nhằm chống lại việc bị kéo sâu vào cuộc chiến, mặc dù Liên Xô nhận thấy rằng chính sách này không được chấp nhận ở Hà Nội.
Vào tháng 11, những biểu hiện về thái độ mới của Liên Xô đã được thể hiện rõ ràng. Ngày 9 tháng 11, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin đã tiếp đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng dẫn đầu đến Matxcơva, để tham dự những hoạt động kỷ niệm lần thứ 47-Cách mạng tháng 10. Đây là chuyến thăm công khai đầu tiên của các nhà lãnh đạo Hà Nội kể từ khi Khrushchev bị cách chức. Mặc dù vào tháng 10 đã có một chuyến thăm bí mật, diễn ra ngay sau Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, khi đó Hà Nội khao khát duy trì các mối quan hệ với các nhà lãnh đạo Xô Viết mới và tìm kiếm ở những người này, cái mà họ đã không thể tìm thấy được từ Khrushchev, do vậy mà họ đã cử Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Matxcơva.
Vào tháng 10 và tháng 11, chủ đề của các cuộc hội đàm đã được thể hiện rõ ràng, đó là sự hợp tác của Liên Xô với Hà Nội. Có lý do chính xác để tin rằng hai Đảng đã đạt tới sự hiểu biết trên nguyên tắc và vấn đề viện trợ quân sự, và một nhà lãnh đạo Xô Viết sẽ tới thăm Việt Nam ngay sau đó làm rõ các chi tiết.
Lần đầu tiên, trong bản tuyên bố của TASS ngày 27 tháng 11 chứa đựng một lời hứa hẹn về việc tăng gấp đôi viện trợ cho Việt Nam, cùng với một lời cảnh báo “những kẻ nuôi dưỡng các kế hoạch phiêu lưu ở bán đảo Đông Dương phải nhận thức được rằng, Liên Xô sẽ không làm ngơ với số phận một nước Xã hội chủ nghĩa anh em và sẵn sàng cung cấp cho Việt Nam sự giúp đỡ cần thiết”.
Tiếp theo đó, ngày 24 tháng 12, Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô đã mời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở phái đoàn thường trực ở Liên Xô. Liên Xô chấp nhận bước đi này trong bối cảnh Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác có những quyết định tương tự, do đó lời mời của Liên Xô xem ra có ý nghĩa hơn. Vào tháng 12, các nhà lãnh đọa Xô Viết đã tiến hành một trong những nỗ lực cuối cùng của họ nhằm ngăn chặn Mỹ tham gia trực tiếp vào Cuộc chiến ở Việt Nam. Ngày 9 tháng 12, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô Andrei Gomyko đang ở Mỹ đã dự Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và đã gặp Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk tại Đại sứ quán Liên Xô ở Washington. Việt Nam là chủ đề trong cuộc hội đàm của họ. Gromyko đã cố gắng thuyết phục đối tác của ông: “Mỹ đã phạm phải một sai lầm lớn bằng việc dính líu vào Cuộc chiến ở Nam Việt Nam. Bởi vì, Mỹ không có lợi ích gì liên quan đến khu vực này”. Ông ta cũng nêu ra thắc mắc “những ý đồ thực sự của Mỹ là gì?”.
Rusk đã đưa ra những lập luận thông thường của Washington về hiểm họa cộng sản từ Bắc Kinh và Hà Nội, về nghĩa vụ của Mỹ đối với chính phủ Sài Gòn và sự chính đáng trong các mục tiêu của Mỹ. Gromyko đã nhận thấy sự nhấn mạnh của Rusk về quyết tấm thực hiện nghĩa vụ của Mỹ: “Ngoại trưởng Mỹ đã lập đi, lập lại rằng nếu Hà Nội và Bắc Kinh để yên cho các nước láng giềng, thì chúng tôi sẽ không ở đó. Mặt khác, ông ta nhấn mạnh, chúng tôi đang ở trong một tình thế rất nghiêm trọng… và một lần nữa, ông ta chỉ có thể nói rằng, nếu Hà Nội và Bắc Kinh để yên cho khu vực này, chúng tôi sẽ rút quân. Nếu không, ở đây sẽ xảy ra một cuộc chiến thật sự”.
Những tuyên bố này của Mỹ đã truyền đến Matxcơva cùng với những thông tin thiếu hy vọng tương tự như vậy từ Hà Nội. Shcherbakov viết từ thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Căn cứ vào những quyết định của Bộ Chính trị (của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam) và những sự kiện khác có thể nhận xét rằng, các kế hoạch của ban lãnh đạo Việt Nam sẽ tập trung vào việc từ từ tăng số lượng của lực lượng Quân giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam và tăng cường các hoạt động quân sự đồng thời với hoạt động tương tự làm xói mòn chế độ bù nhìn từ bên trong”.
Kết hợp những sự kiện này và những thực tế khác, các quan chức Xô Viết vội vã thực hiện những điều chỉnh cuối cùng trong chính sách của họ đối với Việt Nam, trong khi cuộc chiến tranh dường như không phải vài tháng nữa mà là vài ngày nữa sẽ nổ ra.

noitiengtunho
06-02-06, 08:09 PM
Chương II: Bước ngoặt

Nếu như sự khéo léo để bắt đầu một cuộc là không cần thiết, thì những sự kiện đầu năm 1965 dường như ủng hộ quanđiểm này. Điều đó đã quá đủ cho các nhà lãnh đạo chính trị mù quáng theo đuổi những diễn biến ở Đông Nam Á nhằm tạo ra cho họ một tình thế mà ở đó chiến tranh trở thành cách lựa chọn duy nhất. Điều này đặc biệt đúng với chính quyền Johnson, mặc dù các nhà lãnh đạo Xô Viết đã đối mặt với một vấn đề tương tự như vậy.

Vị trí của Mỹ ở miền Nam Việt Nam xấu đi nhanh chóng trong những tháng cuối cùng của năm 1964. Chính quyền Sài Gòn vẫn bị mất ổn định và những chương trình bình định được xây dựng để củng cố chính quyền ở vùng nông thôn cho thấy không có hiệu lực. Quân đội Việt Nam Cộng hòa thụ động trước những hoạt động đang tăng lên của Việt Cộng. Từ 26 tháng 12 đến 2 tháng 1, những đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa được trang bị đến tận răng và được huấn luyện chu đáo dưới sự hỗ trợ của các cố vấn Mỹ và các trang thiết bị quân sự đã bị đánh bại trong một cuộc giao tranh ở Bình Giã. Theo CIA, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lúc đó hầu như đã mở rộng ảnh hưởng đến mọi ngõ ngách ở miền Nam Việt Nam. Mặt trận này tự nhận là “đã kiểm soát được ba phần tư đất nước và 8 triệu trong số 14 triệu dân của miền Nam Việt Nam”. Các bản báo cáo của tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn trùng hợp với những tín toán của CIA. Các quan chức Mỹ ở miền Nam Việt Nam tin rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam có thể nhìn nhận lại tình hình năm 1964 “với cảm giác mãn nguyện”.

Những cuộc nổi loạn ở miền Nam Việt Nam tăng lên đáng kể. Việt Cộng đã mở rộng khu vực, phạm vi các hoạt động và đã giành được một số thắng lợi quân sự. Thất bại của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc dẹp tan cuộc nổi loạn này đã dẫn đến sự sa sút hơn về tinh thần trong quân đội và làm tăng sự mất ổn định chính trị ở Nam Việt Nam. Điều này đã ngược với bối cảnh chính trị ở miền Bắc, “nó không có sự thay đổi rõ ràng ở hàng ngũ lãnh đạo cao cấp hoặc trong các chính sách lớn…”.
Mối quan tâm cao ở Washington về diễn biến của các sự kiện này làm cho Tổng thống Johnson và các cố vấn của ông thiên về một giải pháp quân sự ngày càng tăng lên ở Việt Nam. Vào cuối tháng 11 năm 1964 một kế hoạch hai giai đoạn đã được vạch ra ở Washington bao gồm, những cuộc ném bom của không quân vào Bắc Việt Nam và đây được xem như là một biện pháp cuối cùng để buộc Hà Nội chấm dứt sự ủng hộ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặc dù những cuộc ném bom này không nằm trong chương trình nghị sự của Washington vào thời điểm đó, nhưng việc Tổng thống Johnson thông qua các kế hoạch này đã phản ánh tâm trạng của chính quyền.

Thành công của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam miền Bắc Việt Nam đầu tháng 1 năm 1965 đã củng cố quyết tấm của các nhà hoạch định chính sách Mỹ. Cho tới cuối tháng đó, họ cho rằng việc trả đũa lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như là một biện pháp thích hợp cơ bản được thể hiện trong bức thư của Cố vấn an ninh quốc gia Mc George Bundy gửi Tổng thống ngày 27 tháng 1, với cái tên là “Fork in the Y Memo”. Tác giả (cũng là phát ngôn viên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert Mc Namara), đưa ra hai giải pháp cho Việt Nam: “Giải pháp thứ nhất là sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta ở Viễn Đông buộc tạo ra sự thay đổi trong chính sách của cộng sản; Giải pháp thứ hai là triển khai tất cả các lực lượng của chúng ta cùng với diễn biến của cuộc hội đàm nhằm cứu vãn cái nhỏ nhất cần bảo vệ mà không làm tăng thêm đáng kể những hiểm họa quân sự hiện nay của chúng ta”.

noitiengtunho
06-02-06, 08:12 PM
Rõ ràng là biện pháp thứ hai không nằm trong chương trình này của Mỹ.
Washington hiểu rằng, hướng tới một giải pháp quân sự đối với Cuộc chiến ở Đông Dương sẽ bao hàm những hiểm họa chắc chắn và nhiều vấn đề chưa xác định được, trong số đó có thể có phản ứng của Liên Xô đối với cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các nhà lãnh đạo Mỹ đã cân nhắc triển vọng này một cách nghiêm túc trong suốt tháng 1 và đầu tháng 2, suy nghĩ kỹ những lập luận của họ cho việc ủng hộ hoặc bãi bỏ sự dính líu quân sự.

Có ba vấn đề này sinh trong đầu của các nhà lãnh đạo Mỹ. Vấn đề thứ nhất, đề cập đến những cách thức tham gia của Liên Xô vào cuộc chiến. Thứ hai, các nhà lãnh đạo Mỹ đã thảo luận về tác động của sự leo thang của Mỹ trong quan hệ Mỹ-Xô. Thứ ba là, triển vọng nói chung cho sự hòa hoãn và các mối quan hệ Trung-Mỹ nói riêng cũng được cân nhắc ở Washington.

Ban lãnh đạo Hoa Kỳ không hy vọng Liên Xô sẽ đứng ngoài khi Mỹ tấn công vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng thái độ của Matxcơva đối với những triển vọng về Cuộc chiến ở Đông Nam Á như thế nào và sự giúp đỡ nào mà họ sẵn sàng cung cấp cho Bắc Việt Nam nếu như Mỹ thực hiện những kế hoạch trả đũa chống Hà Nội? Những vấn đề này dường như gây ra sự lo ngại cho Ngoại trưởng Mỹ Rusk, khi ông ta xuất hiện trước Ủy ban đối ngoại Thượng viện ngày 8 tháng 1 để trình bày về tình hình Đông Nam Á. Theo Rusk, Liên Xô mong muốn tránh dính líu với Mỹ trong cuộc chiến ở khu vực này. Hơn nữa, Liên Xô lo sợ về những hậu quả của cuộc chiến giữa một bên là Bắc Việt Nam và Trung cộng với bên kia là “thủ lĩnh của thế giới tư sản”. Rusk cho rằng: “Chúng tôi có được một dấu hiệu cho thấy rằng họ đang lo lắng về một triển vọng đặc biệt sẽ diễn ra trong tình hình này”.

CIA đã đồng ý với quan điểm này và được thể hiện trong báo cáo tháng 1: “Liên Xô dường như ngày càng lo lắng về khả năng leo thang trong Cuộc chiến ở cả Nam Việt Nam và Lào, đang tìm kiếm một vài biện pháp để ngăn cản các hoạt động của Mỹ và Bắc Việt Nam”. Qua kế hoạch giúp đỡ của Liên Xô cho đồng minh Việt Nam, CIA nhận xét rằng: “Sự đáp lại của Liên Xô đối với các kế hoạch ném bom của Mỹ sẽ bao gồm cả nỗ lực ngoại giao và tuyên truyền mạnh mẽ, kết hợp chặt chẽ với sự giúp đỡ bằng quân sự cho Bắc Việt Nam, trong đó hầ như chắc chắn sẽ gồm cả pháo phòng không và Rada”. Tình báo Mỹ cũng tin rằng Việt Nam cũng có thể thúc giục Liên Xô viện trợ tên lửa đất đốikhông và các máy bay phản lực tiên tiến.
Vào thời điểm này, Liên Xô đã thực sự bắt đầu những chuyến tàu vận chuyển vũ khí cho hệ thống phòng không của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong báo cáo ngày 3 tháng 2, CIA đã cho thất rằng các loại vũ khí phòng không gần đây đã bắt đầu xuất hiện ở Bắc Việt Nam. Ngày 9 tháng 2 William Bundy, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về các vấn đề an ninh quốc tế, đã trình lên các thành viên trong tiểu ban về các vấn đề ở Viễn Đông của Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ với thông tin rằng, Liên Xô đã trang bị phòng không đáng kể cho sân bay chính ở khu vực Hà Nội.

Trọng tâm của các cuộc thảo luận ở Washington vào tháng 1 và đầu tháng 2 năm 1965 tập trung vào hai vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau, đó là khả năng chính sách của Liên Xô hướng vào Mỹ và Trung Quốc. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ tin rằng Trung Quốc là một vấn đề chủ yếu của Liên Xô, khi xem xét đến sự phát triển mãnh liệt của hai cường quốc để giành vai trò lãnh đạo trong phong trào Cộng sản quốc tế. Theo các cố vấn của Tổng thống, vì lý do này nên Matxcơva sẵn sàng tăng cường vị trí của mình trong các nước xã hội chủ nghĩa và thậm chí có thể hy sinh một vài mục tiêu để hòa hoãn với phương Tây.

noitiengtunho
06-02-06, 08:15 PM
Quan điểm này đã được Llewllyn Thompson, một chuyên gia về Liên Xô và là Đại sứ lưu động, phát biểu trước Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ ngày 14 tháng 1: “Rõ ràng là trong các tháng sắp tới, phần lớn việc bận tâm của các nhà lãnh đạo Xô Viết là quan hệ giữa họ với Trung cộng”. Thompson nhận xét: “Bởi vì họ đang tranh giành với Trung cộng để tạo ảnh hưởng tới các Đảng cộng sản khác, do đó bất kỳ điều gì họ làm đều sẽ liên quan đến việc vấn đề đó có ảnh hưởng đến quan hệ Trung-Xô như thế nào?”. Thompson cho rằng, quan hệ giữa Liên Xô với phương Tây được xếp hàng thứ yếu trong chương trình nghị sự của Liên Xô.

Vài ngày sau, Ngoại trưởng Rusk đã phát biểu cùng quan điểm như vậy, thậm chí còn thẳng thừng hơn khi báo cáo với Thượng viện về tình hình Đông Nam Á: “Suy nghĩ hiện nay của tôi là-ông nhấn mạnh-Vấn đề Trung Quốc là nỗi bận tâm lớn ở Matxcơva và bất kỳ điều gì mà họ và chúng ta đang làm và đang bàn chỉ bằng một phần trong vấn đề của họ với Bắc Kinh. Theo sự cảm nhận cơ bản nhất, vấn đề Bắc Kinh là ưu tiên chính sách đối ngoại hàng đầu của họ”.

Các đánh giá của tình báo Mỹ đã ủng hộ (và đôi khi còn thổi phồng) quan điểm này bằng cách phân tích sự phát triển trong chính sách của Liên Xô ở Đông Nam Á, từ những dự báo về sự rạn nứt trong quan hệ Trung-Xô: “Kết quả của sự bận tâm của Liên Xô đối với Trung Quốc, theo các nhà phân tích Mỹ, đó là một vị trí không thể hòa hợp, hơn nữa đối với Matxcơva về lĩnh vực quan hệ Xô-Mỹ, đặc biệt trong trường hợp những hoạt động theo kế hoạch của Mỹ chống lại Bắc Việt Nam. Trong một dự báo tình hình quốc gia đặc biệt ngay sau các cuộc ném bom trả đũa của Mỹ chống lại Bắc Việt Nam. Ban lãnh đạo tình báo Mỹ (sau những dự báo vì những nỗ lực của Trung Quốc nhằm khoét sâu thêm sự khó xử của Liên Xô), đã dự báo rằng: “Chính sách chung của Liên Xô sẽ nặng nề hơn đối với Mỹ”. Chính điều này sẽ nuôi dưỡng các hành động cản trở việc làm hòa dịu những căng thẳng và làm tăng cử chỉ thù địch của Liên Xô về các vấn đề Đông-Tây khác. Đồng thời, tình báo Mỹ cũng nhấn mạnh rằng, Liên Xô sẽ không muốn kích động một cuộc khủng hoảng lớn ở bất kỳ nơi nào-Ví dụ như ở Berlin hoặc Cuba-như là phản ứng đối với các hành động của Mỹ.

Mặc dù Washington lo ngại về sự sa sút có thể trong các mối quan hệ Xô-Mỹ, nhưng triển vọng về một Liên minh Trung-Xô thực sự là một cơn ác mộng cho các nhà hoạch định chính sách của Mỹ. Rusk tin rằng nếuỹ không thực hiện những hành động mạnh mẽ để ngăn chặn hiểm họa của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thì Liên Xô và Trung Quốc dễ kết hợp các nỗ lực của họ lại với nhau để buộc “đế quốc Mỹ” rút lui ở cả các khu vực khác trên thế giới.

Như ông đã trình bày tại cuộc điều trần trước Ủy ban đối ngoại Thượng viện: “Nếu như Bắc Kinh có thể chứng minh được rằng, đường lối, chính sách của họ đã đem lại những lợi ích thực tế, như những thành công ở Đông Nam Á và Indonesia, thì sẽ có một khả năng rất to lớn là, Matxcơva sẽ nỗ lực thu hẹp mối ngăn cách giữa Matxcơva và Trung Quốc bằng cách hướng tới quan điểm mang nặng tính quân sự của Bắc Kinh đối với cuộc cách mạng thế giới”.

Vài ngày sau đó Ngoại trưởng Mỹ lại thể hiện niềm tin một lần nữa cũng tại chính Ủy ban này: “Tôi thật sự tin tưởng rằng nếu Bắc Kinh giành được thành công đáng kinh ngạc ở Đông Nam Á hoặc chống lại Ấn Độ, thì Trung Quốc có thể làm tăng thêm triển vọng Liên Xô sẽ thu hẹp khoảng cách với Bắc Kinh bằng cách tiến hành theo định hướng về tư tưởng và chiến thuật của Bắc Kinh. Mặt khác, nếu như những người Cộng sản Trung Quốc bị chặn lại tại các giới hạn hiện tại của họ, thì những cơ hội đó sẽ được chứng minh rằng, Bắc Kinh sẽ tiến xa hơn theo chiều hướng cùng tồn tại hòa bình (ít nhất qua nhiều bước). Tôi không bao giờ hy vọng điều đó xảy ra sớm”.

Ý kiến phản đối về khả năng thiết lập lại mối quan hệ hữu nghị giữa Matxcơva và Bắc Kinh là do Mike Mansfield, thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện đưa ra. Trong bức thư của ông gửi Tổng thống Johnson sau một cuộc thảo luận tại Nhà Trắng, Mansfield cho rằng sự can thiệp trực tiếp của Mỹ vào Cuộc chiến Việt Nam có thể dẫn tới “một mức độ hợp tác gần gũi hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc… điều đó có thể tự bộc lộ rõ bằng việc Liên Xô phục hồi lại viện trợ quân sự cho Trung Quốc và việc vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô qua Trung Quốc cho Bắc Việt Nam. Đây có thể là một bất lợi rất lớn bởi vì một trong những hy vọng của phương Tây là khuyến khích sự rạn nứt giữa hai cường quốc cộng sản, một hy vọng mà tôi tin chắc rằng bây giờ đã giảm xuống một mức độ đáng kể”.

noitiengtunho
06-02-06, 08:18 PM
Từ rất nhiều cuộc thảo luận ở Washington đầu năm 1965 mà chúng có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ Xô-Mỹ trong Cuộc chiến Việt Nam và cũng có thể rút ra hai kết luận:
-Một là: Liên Xô không hài lòng với cuộc xung đột quân sự ở Đông Dương và mong muốn thật sự dàn xếp hòa bình, càng sớm càng tốt.
-Hai là: Trong cuộc chạy đua lâu dài này, Liên Xô không mong muốn làm nguy hại đến các mối quan hệ với phương Tây nói chung, đặc biệt là với Mỹ bởi vì cuộc xung đột này nằm ở một góc xa xôi của thế giới.
Trong khi các nhà phân tích người Mỹ đang làm rõ sự rối rắm của tình hình thế giới, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của Mỹ ở Việt Nam, thì hai sự kiện xảy ra vào tháng 2 đã làm thay đổi cơ bản tình hình ở đó và tạo ra một bước chuyển mới trong Cuộc chiến ở Việt Nam. Ngày 31 tháng báo chí ở Matxcơva đưa tin rằng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kosygin sẽ thăm Hà Nội vào đầu tháng 2. Chuyến thăm này đã tạo ra một bước tiến trong quan hệ giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam sau cuộc gặp của các nhà lãnh đạo Xô Viết với Phạm Văn Đồng vào tháng 10 và 11 năm 1964. Khoảng cách giữa các cuộc gặp này và chuyến thăm của Kosygin đã được đánh dấu bằng những thay đổi về chất trong mối quan hệ song phương giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngoài việc mở cửa phái đoàn thường trực Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào cuối tháng 12 năm 1964, Liên Xô đã tăng cường các nỗ lực của họ một cách rõ ràng để bảo vệ Hà Nội khỏi những cuộc công kích có thể xảy ra, bằng cách chuyển tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các loại vũ khí phòng không. Họ cũng đẩy mạnh sự giúp đỡ tinh thần bằng cách lên án chính sách của Mỹ ở Việt Nam và Đông Nam Á. Những chuyển hướng này trong chính sách đã được các “đồng chí” Việt Nam hoan nghênh. Các nhà ngoại giao Xô Viết đã báo cáo với Matxcơva rằng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam miền Nam Việt Nam tỏ ra mãn nguyện với tin tức về sự ủng hộ của Liên Xô trong cuộc đấu tranh của họ. Đồng thời họ cũng nhấn mạnh rằng, vị trí của Liên Xô trong khu vực sẽ phụ thuộc vào mức độ viện trợ của Liên Xô cho cuộc đấu tranh của Việt Nam.
Rõ ràng rằng, chuyến thăm của Kosygin được dự định nhằm củng cố nền tảng mới trong các mối quan hệ giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời làm rõ các chi tiết trong quan hệ giữa hai nước với các vấn đề quân sự là trọng tâm tại các cuộc thảo luận. Do vậy đoàn đại biểu Liên Xô gồm có Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyên soái Konstantin Vershinia, Phó chủ tịch Ủy ban Nhà nước về ngoại thương, Tướng G.S.Didorovich và Bộ trưởng hàng không dân dụng Engenii Loginov.
CIA đã lưu ý đến tầm quan trọng của chuyến thăm của Liên Xô trong báo cáo tình báo ngày 1 tháng 2. CIA thấy rằng một trong những mục đích chính chuyến thăm của Kosygin đó là “củng cố lòng tin về những tuyên bố công khai được nhắc lại kể từ tháng 11 rằng, Liên Xô “không thể cứ thờ ơ với số phận của một nước xã hội chủ nghĩa anh em và rằng Liên Xô sẵn sàng cung cấp cho Hà Nội sự giúp đỡ cần thiết”. CIA coi chuyến thăm này như “đỉnh cao trong sự trao đổi quan điểm kể từ khi Khrushchev bị đổ”. Nhưng cũng theo tình báo Mỹ, Matxcơva cũng đang theo đuổi các mục đích khác bằng cách gửi một phái đoàn cao cấp tới Hà Nội. Hai tháng sau có được những bằng chứng mới, CIA cho là “Kosygin chắc chắn đã ý định báo động cho Bắc Việt Nam không được đánh giá thấp quyết tấm của Mỹ nhằm ngăn chặn thắng lợi của Cộng sản ở miền Nam”.
Nhiệm vụ của ông ta là kêu gọi Hà Nội tránh những hành động có thể tạo ra sự trả đũa của Mỹ và tạo ra những thay đổi về giới hạn của cuộc chiến và chờ đợi cho đến khi thể chế chính trị ở Sài Gòn thực sự tan vỡ. Qua xem xét đến việc đoàn đại biểu này hai lần dừng chân ở Bắc Kinh đã thể hiện rõ ràng rằng Liên Xô cũng đã có kế hoạch đi đến sự thỏa hiệp với Trung Quốc.

noitiengtunho
06-02-06, 08:21 PM
Tuy nhiên, các mục đích chuyến thăm của phái đoàn Kosygin được tính toán rất kỹ. Liên Xô nhanh chóng phát hiện ra rằng ít nhất một số mục tiêu của họ là không thể đạt được. Đầu tiên là mong muốn Việt Nam tránh sự khiêu khích đối với Mỹ đã tỏ ra vô vọng. Ngay sau khi Kosygin đến Hà Nội, các đơn vị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tấn công vào một căn cứ của Mỹ ở Pleiku, giết 8 lính Mỹ và làm bị thương hơn 60 người. Cuộc tấn công này đã biến thành một cái cớ mà Mỹ chờ đợi từ lâu nay để tiến hành một cuộc trả đũa. Tổng thống Johnson ngay lập tức phê chuẩn các kế hoạch công kích trên lãnh thổ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mặc dù trước đó Washington đã hủy bỏ Cuộc tuần tiễu De Soto (một nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo ở Vịnh Bắc Bộ và dọc theo bờ biển của Bắc Việt Nam) cho tới sau chuyến thăm của Kosygin, nhằm tránh làm phương hại đến các mối quan hệ Xô-Mỹ, nhưng Cuộc tấn công vào Pleiku đã tạo cho Mỹ một cơ hội tuyệt vời để trừng trị Bắc Việt Nam và rằng với sự hiện diện của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ở Hà Nội cũng không thể cản trở Mỹ có hoạt động như vậy.

Không có một bằng chứng nào cho thấy rằng Liên Xô đã biết trước Cuộc tấn công vào Pleiku, mà chỉ có một số lập luận mâu thuẫn. Các mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Liên Xô vẫn chưa đạt tới mức độ mà Hà Nội có thể sẵn sàng thông báo cho Matxcơva những kế hoạch và các hoạt động của mình ở miền Nam. Ví dụ như, đầu tháng 1, một quan chức của Sứ quán Liên Xô ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc nói chuyện với một đại diện của Bắc Việt Nam trong Ủy ban thống nhất đất nước đã cố gằng tìm kiếm về những hoạt động sắp tới của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam miền Nam Việt Nam, nhưng không có kết quả gì. Quan chức này đã kết luận: “Cũng như trước kia, các đồng chí Việt Nam không muốn chia sẻ với chúng tôi bất kỳ một tin tức nào đặc biệt là những tin tức liên quan đến những vấn đề cụ thể của tình hình ở miền Nam Việt Nam, về hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và các kế hoạch của họ trong tương lai…”.

Trong một nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam, R.B.Smith cho rằng Matxcơva không quan tâm đến việc khuấy động các sự kiện ở miền Nam để dẫn đến việc kích động Mỹ. Thái đọ của các nhà lãnh đạo Xô Viết trước sự kiện này cũng như ảnh hưởng yếu (thậm chí không có) của họ ở Hà Nội, cho thấy rằng Liên Xô khó mà có được những ý đồ như vậy. Các quan chức Mỹ hiểu vấn đề này tương đối rõ. Vào lúc đó, không có một chút nghi ngờ nào ở Washington rằng Liên Xô có thể biết được các kế hoạch của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Điều trái ngược là tất cả những lời tuyên bố và những tài liệu đã khẳng định lời tiết lộ của các nhà hoạch định chính sách rằng, “Kosygin có thể bị Hà Nội bẫy”.

noitiengtunho
06-02-06, 08:25 PM
Tuy nhiên, Tổng thống Johnson đã nhận thức được tác động có thể xảy ra đối với Matxcơva từ những hành động trả đũa của Mỹ. Trong các cuộc thảo luận ở Nhà Trắng ngay sau khi các tin tức về cuộc tấn công ở Pleiku được truyền đến Nhà Trắng, không phải tất cả các cố vấn của Tổng thống đều ủng hộ cuộc tấn công trả đũa trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chủ yếu là bởi những tổn thương mà chúng có thể gây ra cho các mối quan hệ Xô-Mỹ. Trong số những người không ủng hộ cuộc tấn công này gồm có: Trợ lý Ngoại trưởg George Ball, Mike Mansfield và Liwellyn Thompson. Nhằm sửa chữa thiệt hại này ở mức tối thiểu, Johnson đã thông qua các biện pháp cho Liên Xô được biết về những dự định của Mỹ ở Việt Nam. Vào ngày hôm trước khi có cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia 8 tháng 2, Thompson đã gặp Đại sứ Liên Xô Anatoli Dobrybnin cố gắng thuyết phục ông ta rằng Mỹ đã buộc phải đáp lại cuộc tấn công của Việt Cộng. Chính Johnson đã quyết định có một cuộc thảo luận với Đại sứ Liên Xô-như ông đã giải thích cho các nhà lãnh đạo Quốc hội Mỹ: “Bởi vì tầm quan trọng của việc truyền đạt quan điểm của chúng ta tới người Nga”.

Nhưng các nỗ lực của chính quyền Johnson không thể ngăn chặn được phản ứng tiêu cực của Matxcơva. Ngày 9 tháng 2, Chính phủ Liên Xô đưa ra một tuyên bố liệt kê và giải thích về các sự kiện ở Việt Nam với một lời cảnh báo rằng, Liên Xô “cùng với các đồng minh và những bè bạn của mình” có thể thực hiện “những bước tiến xa hơn để bảo vệ an ninh” và tăng cường sự phòng thủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đáng chú ý là trong đó có một số đoạn đề cập đến các quan chức Xô-Mỹ. Các nhà lãnh đạo Xô Viết nhấn mạnh rằng sự phát triển trong quan hệ giữa hai nước là một tiến trình chung, không phù hợp với những “hành động chính trị hiếu chiến, mà điều đó có thể làm xấu đi những bước tiến tới sự bình thường hóa trong các mối quan hệ Xô-Mỹ”.

Ngày tiếp theo, Kosygin và Phạm Văn Đồng đã đưa ra một tuyên bố chung nhấn mạnh tầm quan trọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như là “một tiền đồ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”, nhấn mạnh đến vai trò của nó trong cuộc đấu tranh chống “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ” và những đóng góp trong sự nghiệp bảo vệ hòa bình ở châu Á và trên toàn thế giới. Bản tuyên bố cũng tái khẳng định rằng Liên Xô sẽ “không giữ thái độ làm ngơ đối với việc bảo đảm an ninh của một nước xã hội chủ nghĩa anh em” và “cung cấp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những khoản viện trợ và sự giúp đỡ cần thiết”. Bản tuyên bố cũng cho thấy rằng hai nước cũng đã đạt tới sự hiểu biết về những bước cần phải làm để tăng cường các khả năng phòng thủ của Bắc Việt Nam.

Chiến dịch tuyên truyền của Liên Xô rõ ràng xuất phát từ thái độ căm phẫn đối với những hành động xâm lược của Mỹ đối với Bắc Việt Nam trong khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đang ở thăm Hà Nội. Matxcơva đã không giấu giếm quan điểm: “Sự chọn lựa thời điểm cho các cuộc ném bom của Mỹ lên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một sự xúc phạm tới Kosygin một hậu quả rất rõ ràng mà nhiều cố vấn của Johnson đã lo sợ”. Ngày 10 tháng 2 một quan chức của Liên Xô tại Liên Hợp Quốc đã khẳng định rằng Liên Xô coi việc ném bom của Mỹ trong chuyến thăm của Kosygin tới Hà Nội là “một hành động thiếu thiện chí”. Bản thân Kosygin cũng không thể tha thứ cho “hành động làm bẽ mặt này”, và thậm chí một năm sau ông lại đưa chuyện này ra trong một cuộc hội đàm với Phó tổng thống Hubert Humphrey ở New Delhi.

Nhưng cũng có một số lý do chính đáng tạo nên sự bực tức của các nhà lãnh đạo Xô Viết. Sự kiện ở Pleiku và việc trả đũa của Mỹ đã xóa đi những gì còn lại trong hy vọng của Matxcơva nhằm tránh được việc quốc tế hóa cuộc xung đột ở Việt Nam. Như vậy, Liên Xô bị buộc phải gác qua một bên chính sách ủng hộ về tinh thần, không tham dự và phải nhảy vào một cuộc chiến với những hậu quả không thể lượng trước được.

noitiengtunho
06-02-06, 08:35 PM
Sự khó xử trong chính sách đối ngoại của Liên Xô càng trầm trọng hơn do mối quan hệ ngày càng xấu đi với Trung Quốc. Những lần dừng chân của Kosygin ở Trung Quốc cho thấy những mục tiêu không thể thương lượng được giữa hai cường quốc cộng sản. Trên đường quay trở về Matxcơva, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã gặp Mao Trạch Đông ngày 11 tháng 2, nhưng cuộc gặp đó đã không đem lại một kết quả khả thi nào. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản đối những đề nghị hòa giải của Liên Xô cũng như lời đề nghị phối hợp giúp đỡ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong bối cảnh này các nhà lãnh đạ Liên Xô đã thông qua một chính sách được bắt nguồn từ cuối năm 1964. Đầu tiên là Matxcơva sẽ không mạo hiểm đọ sức với Mỹ. Mặc dù Liên Xô lên án những hành động gần đây nhất của “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ”, những lời tuyên bố của họ đã được phân biệt bằng một giọng điệu hơi kiềm chế. Tương tự như vậy, các nhà lãnh đạo Xô Viết đã hạn chế những lời cảnh báo xa hơn về tác động của những hành động của Mỹ đối với quan hệ hai nước, như vậy sẽ tránh được những khái niệm về sự đổ vỡ có thể xảy ra trong tương lai. Matxcơva cũng tính toán tương đối kỹ về những lời hứa giúp đỡ Bắc Việt Nam.
Trong bài phát biểu trên vô tuyến truyền hình ngày 26 tháng, như các nhà phân tích Bộ Ngoại giao nhận xét. Kosygin đã nói đủ để “bảo vệ Liên Xô chống lại luận điệu của Trung Quốc rằng Liên Xô đã phản bội Hà Nội, nhưng lại tránh xa khỏi việc cam kết rằng Liên Xô sẽ toàn quyền trong việc ủng hộ Bắc Việt Nam”.
Rõ ràng là điều này không có ý rằng Liên Xô có ý định lẩn tránh sự giúp đỡ thiết thực cho những người bạn Việt Nam của họ. Sự thực là số lượng viện trợ của Liên Xô cho Bắc Việt Nam là dáng kể và đang tăng lên hàng năm. Thế nhưng sự hạn chế được thấy rõ trong các tuyên bố của Liên Xô ở giai đoạn đầu của cuộc chiến Việt Nam là những miễn cưỡng của Matxcơva trong việc làm cho viện trợ của họ đối với Việt Nam thành vật chướng ngại trong các mối quan hệ với phương Tây.
Ngoài những dấu hiệu không có thực như vậy, Matxcơva rất muốn tạo cho Mỹ một bằng chứng rõ ràng rằng Liên Xô muốn duy trì những kênh liên hệ của họ với phương Tây một cách cởi mở. Ngày 12 tháng 2, CIA đã gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ nói rằng có một quan chức ngoại giao bậc trung của Liên Xô đã khuyên một đồng nghiệp Mỹ về sự hữu ích của những liên hệ không chính thức giữa hai cường quốc nhằm giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình.
Cho đến cuối tháng 3, CIA đã tổng kết những cuộc tiếp cận riêng của các quan chức Xô Viết trong những ngày đầu tiên của sự leo thang trong cuộc chiến. Theo CIA, những cuộc tiếp cận này “nhấn mạnh mong muốn của Matxcơva tránh sự tham gia vào cuộc chiến Việt Nam và tiếp tục hợp tác Mỹ để tiến tới một giải pháp chính trị”.
CIA nhận xét: “Một đề tài thích hợp trong các cuộc hội đàm “là một điểm được nhấn mạnh trong lợi ích chung giữa Mỹ và Liên Xô, nhằm đạt tới một giải pháp hòa bình cho cuộc khủng hoảng. Bất kỳ ai đã quen với các phương pháp làm việc của bộ máy nhà nước Xô Viết đều có thể hiểu rằng những bước tiến như vậy sẽ không thể thực hiện được nếu như không có sự hướng dẫn từ trên. Về vấn đề này, những cảm giác được nêu ra ở trên đã thể hiện vị trí của các nhà lãnh đạo Xô Viết và mong muốn của Liên Xô tránh sự không cần thiết trong các mối quan hệ với Washington.
Các quan chức cao cấp nhất của Matxcơva đã cho các nhà ngoại giao Mỹ thấy rõ vị trí công khai của họ (Liên Xô) nên được nhận thức như thế nào?