những thuốc giải quyết viêm bao tử cấp và mạn tính

Thảo luận trong 'Rao vặt' bắt đầu bởi beautyskin1, 12 Tháng sáu 2018.

  1. beautyskin1

    beautyskin1 New Member

    Viêm dạ dày được xác định bằng sự việc hiện diện tổn hại viêm. Viêm bao tử có thể phát triển cung ứng tính, kinh niên, lan tỏa hay khu trú tại một vùng của dạ dày. lúc bị viêm dạ dày, người mắc bệnh là chính được khắc phục nội khoa bằng thuốc chất kháng sinh kết hợp với một vài thuốc khác.

    Viêm bao tử cấp và các thuốc giải quyết

    Viêm bao tử phân phối là phản ứng viêm cung ứng tính của niêm mạc bao tử, biểu hiện thường rầm rộ: đau vùng thượng vị dữ gội, cồn cào, tăng nhiệt rát, có khi âm ỉ, ậm ạch khó tiêu; ngoài ra muốn ói, hoặc nôn nhiều, ăn xong nôn ngay, nôn hết đồ ăn thì nôn ra dịch chua, có lúc nôn cả ra máu, có khả năng có sốt. người mắc bệnh sẽ được chẩn đoán viêm dạ dày cung ứng cốt yếu dựa vào khám lâm sàng và nội soi dạ dày. khi mắc bệnh, được giải quyết bằng chế độ ăn uống và dùng thuốc. Về chế độ ăn uống, ban sơ nhịn ăn 1- 2 ngày, sau rồi uống sữa, ăn súp, ăn mềm rồi ăn cơm thông thường. dùng thuốc chữa trị trạng thái bao gồm:

    Thuốc chống co thắt, chống nôn, có công hiệu giảm đau, hạn chế co bóp của bao tử, hạn chế tiết dịch acid, do đó hạn chế đau cho người bệnh, gồm: atropin, buscolysin.

    những thuốc chống co thắt cơ suôn sẻ (giảm co bóp cơ suôn sẻ của thành bao tử, do đó giảm co bóp của dạ dày, giảm đau), gồm: papaverin, spasmaverin.

    Thuốc điều quyện nhu động dạ dày, ruột khái quát thuốc chống co thắt giảm đau có khả năng sử dụng một ở trong các mẫu sau: spasmaverin; meteospasmyl. Thuốc điều hoà nhu động bao tử có khả năng dùng metoclopramid HCL (primperan); domperidone maleate (motilium- M). Thuốc liên quan lên thần kinh trung ương (có công hiệu trấn tĩnh, an thần kinh) như: sulpiride (dogmatyl), seduxen, bromazepin (lexomyl).

    Thuốc bão hòa acid, bảo vệ niêm mạc dạ dày (có thực chất là những bazơ, trung hoà giảm thiểu một trong những phần acid bên trong dịch vị của bao tử, từ đó giảm ác hại của acid lên niêm mạc bao tử, hạn chế đau) có thể sử dụng phosphalugel gastropulgite.

    Thuốc băng phủ bảo đảm an toàn niêm mạc dạ dày (có công dụng tạo một hàng rào bao trùm niêm mạc dạ dày), gồm: bismuth subcitrat, sucralfat. nhóm thuốc muối bismuth gồm những tinh thể muối này gắn chặt cùng với các albumin của dịch rỉ viêm và các glyco protein sản xuất một màng bọc, có vai trò củng cố hàng rào bảo đảm an toàn niêm mạc như: trymo, pylocid, denol hoặc sucralfate. Thuốc này liên kết cùng với pepsin và muối mật phủ lên vùng niêm mạc bị viêm

    Thuốc ức chế tiết Acid H2 (có vai trò hạn chế tiết acid ở dạ dày) như: cimetidin, ranitidin, famotidin. ngoài ra, có thể sử dụng lực lượng thuốc trung hoà acid (có bản tính là các bazơ, sẽ trung hoà một phần acid HCl trong dịch vị): gastropulgit, maalox, phosphalugel.

    Thuốc ức chế bơm proton (có tác dụng giảm tiết acid của bao tử giống như thuốc ức chế H2): omeprazole, lansoprazole, esomeprazol.

    rửa bao tử nếu bởi ngộ độc hoặc uống nên các chất acid, sử dụng dung dịnh NaOH 0,2% lạnh qua sonde bao tử để gội. Truyền dịch bù nước, điện giải nếu nôn nhiều. Truyền dịch, truyền máu nếu có chảy máu tiêu hoá gây trạng thái sụt giảm máu. Nếu bệnh nhân dị ứng thì dùng dimedrol hoặc pipolphen chống dị ứng.[​IMG]
    Nội soi bao tử. Ảnh: è Minh
    những thuốc sử dụng trong viêm bao tử mãn tính

    Viêm bao tử kinh niên là phản ứng viêm có thuộc tính kinh niên, phát triển dần của niêm mạc bao tử, do những chi tiết khác nhau khiến cho, có nguy cơ dẫn đến viêm teo niêm mạc dạ dày, có thể có dị sản, loạn sản và một trong những phần nhỏ có khả năng tiến triển thành ung thư bao tử. khi bị bệnh, người mắc bệnh có cảm giác nặng nề bụng, trướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ, cảm giác đắng miệng vào sáng sớm, buồn nôn, nôn, chán ăn, đi tiêu táo, lỏng thất thường. nóng rát vùng thượng vị xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc trưng rõ ràng sau ăn uống một đôi thứ như: bia, rượu, rượu chát trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Đau vùng thượng vị dù thế không đau dữ dội, thường chỉ là cảm nhận khó chịu, âm ỉ thường xuyên nâng cao lên sau khi ăn.

    người mắc bệnh phải được điều trị bằng phương pháp loại trừ những nguyên do tạo điều kiện cho bệnh, diệt trừ vi khuẩn Helicobacter Pylori nếu có, dùng các thuốc thúc đẩy sinh ra chất nhầy kéo dài sự tái sinh của niêm mạc, khắc phục tuần hoàn của niêm mạc và chữa các không ổn định chức năng liên quan đến tập thể dục và tiết dịch của dạ dày. Về chế độ ăn uống, nên tránh tuyệt đối các đồ ăn tạo điều kiện cho kích thích niêm mạc dạ dày: rượu, bia, thuốc lá, thực phẩm chua, cay, không nên uống các dòng nước ngọt chứa tương đối ga. nên ăn nhiều bữa ở trong ngày, mỗi bữa bạn không nên ăn quá no.

    ở trong đợt tiến triển của viêm dạ dày mạn tính, những thuốc được dùng bao quát nhóm thuốc bảo vệ, bọc phủ niêm mạc bao tử, thuốc bão hòa acid, thuốc điều chỉnh chức năng vận động dạ dày. ngoài ra, còn dùng thêm một đôi đội ngũ thuốc sau:

    đội ngũ thuốc nâng cao bài xuất nhầy, tái sinh niêm mạc có tác dụng, chuyển biến tuần hoàn của niêm mạc bao tử (tăng bài tiết nhầy, tái sinh niêm mạc, chuyển biến lưu thông của niêm mạc dạ duyệt công việc tăng prostaglandin E2). các thuốc có khả năng sử dụng như: cytotec, selbex, pepsane.




    http://daubaotulagi.blog.fc2.com/blog-entry-4.html

    lực lượng thuốc điều chỉnh hỗ trợ chức năng tiết acid của dạ dày: nếu giảm toan dịch vị bao tử, người bệnh có khả năng uống dung dịch acid clohydric 1%.

    hàng ngũ diệt vi khuẩn Helicobacter pylori: cộng 2-3 chất kháng sinh hoặc kết hợp 2 kháng sinh với muối bismuth hoặc cùng một thuốc ức chế acid. Nếu vi khuẩn kháng thuốc, có thể thay thế bằng tinidazol hoặc clarythromycin.
     

Chia sẻ trang này